Thị trường tiếp tục điều tiết lãi suất

09:09 | 10/04/2015

Ông Võ Tấn Hoàng Văn cho rằng, việc duy trì mức trần lãi suất tạo sự bình đẳng tương đối trong khuôn khổ pháp luật là cần thiết. Còn nếu chúng ta muốn bỏ trần lãi suất này thì phải có cơ chế khác bù đắp đảm bảo sự ổn định an toàn hệ thống.

Ông Võ Tấn Hoàng Văn

Tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 3/2015, Chính phủ giao NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động linh hoạt, phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 1 – 1,5%/năm bằng biện pháp thị trường. Vậy các NH sẽ sử dụng các biện pháp thị trường nào để có thể giảm được lãi suất cho vay trung, dài hạn. Phóng viên Thời báo NH đã có cuộc trao đổi với Tổng giám đốc SCB Võ Tấn Hoàng Văn về giải pháp giảm lãi suất của những “người trong cuộc”.

Theo ông, biện pháp thị trường nào giúp NH giảm lãi suất trung, dài hạn?

Theo tôi, biện pháp thị trường chính là chi phí đầu vào. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhất giúp NH tiết giảm lãi suất cho vay trong thời gian qua. Để giảm lãi suất cho vay trung, dài hạn theo biện pháp thị trường thì thực hiện theo giải pháp NHNN điều hành lãi suất đầu vào hợp lý, các NHTM tiết kiệm chi phí quản lý, chi phí dự phòng… như vậy tạo điều kiện đầu ra thấp hơn đúng quy luật thị trường. Lãi suất được cấu thành dựa trên các yếu tố chi phí đầu vào gồm cả chi phí quản lý, tiếp đến là đánh giá hiệu quả kinh doanh khách hàng và cuối cùng mới là những yếu tố khác như định hướng Nhà nước. Sắp đặt theo thứ tự như vậy mới hợp lý.

Còn chính sách lãi suất ưu tiên hiện nay, theo tôi hiểu, nó được sắp xếp theo thứ tự hơi ngược lại: đầu tiên là định hướng Nhà nước, sau đấy mới đến yếu tố đầu vào, và cuối cùng mới là yếu tố rủi ro. Hiện, mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn các lĩnh vực ưu tiên theo quy định ở mức 7%/năm. Với mức lãi suất chốt như vậy khi áp dụng đại trà, nhiều lúc các NHTM nhỏ khác cũng gặp khó vì còn tùy đặc thù, quy mô NH, rủi ro dự án, chất lượng khách hàng... Dù định hướng là hoàn toàn đúng nhưng đứng ở góc độ thị trường thì nó chưa mang tính thị trường.

Vậy, liệu có cần tất cả các NHTM phải giảm lãi suất cho vay trung, dài hạn?

Tôi nghĩ là không nhất thiết tất cả các NH phải thực hiện mà để thị trường lên tiếng. Như trần lãi suất huy động ngắn hạn là 5,5%/năm nhưng hiện nay rất nhiều NH chỉ huy động vốn ngắn hạn ở mức hơn 4%/năm do họ cân đối được nguồn vốn của mình. Dù để lãi suất thấp hơn NHNN công bố nhưng họ vẫn duy trì hoạt động huy động vốn tốt. Hoạt động cho vay cũng vậy, do yếu tố cạnh tranh thị trường quyết định. Ví dụ những DN tốt, đảm bảo NH sẽ dành cho họ mức lãi suất cạnh tranh, nếu không DN sẽ đến gõ cửa NH khác. Do đó, không cần phải bắt buộc, tự các NH phải điều tiết.

Nếu thị trường đang tự điều tiết được, liệu có cần đến trần lãi suất không?

Hiện tính đồng nhất hệ thống TCTD hiện chưa đều, có NH tốt, khá, trung bình, yếu… Nếu gỡ trần lãi suất có thể giai đoạn này họ chưa cần do thanh khoản đang ổn định. Nhưng sau này khi cần tiền quá, có thể họ lại bất chấp làm liều tạo hệ lụy nguy hiểm. Vì vậy tôi cho rằng, việc duy trì mức trần lãi suất tạo sự bình đẳng tương đối trong khuôn khổ pháp luật là cần thiết. Còn nếu chúng ta muốn bỏ trần lãi suất này thì phải có cơ chế khác bù đắp đảm bảo sự ổn định an toàn hệ thống.

Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Vũ thực hiện

Nguồn:

Tags: lãi suất

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050