Thị trường trái phiếu sẽ đi vào chiều sâu

07:11 | 14/01/2022

Năm 2021 nền kinh tế gặp nhiều khó khăn thách thức, nhưng lại là năm thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) khá sôi động, “thăng hoa” với tổng nguồn vốn huy động được đạt khoảng 500 nghìn tỷ đồng tăng khoảng gần 36% so với năm 2020. Kết quả này không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động huy động vốn cho sản xuất, kinh doanh của mình mà còn góp phần chia sẻ gánh nặng về cung ứng vốn trung, dài hạn với hệ thống các TCTD.

thi truong trai phieu se di vao chieu sau MSB đứng đầu trong Bảng xếp hạng thành viên giao dịch trái phiếu Chính phủ
thi truong trai phieu se di vao chieu sau Nhóm ngân hàng dẫn đầu phát hành trái phiếu doanh nghiệp năm 2021
thi truong trai phieu se di vao chieu sau Tín hiệu tích cực cho trái phiếu kho bạc Mỹ

Một năm… bùng nổ

Đánh giá thị trường TPDN, đặc biệt là TPDN riêng lẻ trong 2021, bà Vũ Thị Thúy Ngà, Phó Tổng giám đốc HNX dùng cụm từ “thực sự bùng nổ” khối lượng TPDN phát hành riêng lẻ chiếm 94,5%, còn lại 5,5% là TPDN phát hành ra công chúng. Các TCTD và doanh nghiệp bất động sản là các nhà phát hành lớn nhất trên thị trường chiếm lần lượt khoảng 34% và 27,7% tổng khối lượng phát hành, còn lại là các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, sản xuất và công ty chứng khoán.

Về cơ cấu nhà đầu tư, các công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại là các nhà đầu tư chính trên thị trường sơ cấp, tỷ trọng mua TPDN riêng lẻ của nhà đầu tư cá nhân giảm so với năm 2020. Nguyên nhân được Bộ Tài chính cho biết là, Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp và các nghị định về phát hành TPDN đã quy định rõ chỉ nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp được mua và giao dịch TPDN phát hành riêng lẻ. Tuy nhiên, trên thị trường thứ cấp, tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư cá nhân vẫn rất cao. Trong cơ cấu các nhà đầu tư nhỏ có tới 99% là nhà đầu tư trong nước, số lượng nhà đầu tư nước ngoài rất ít. Toàn bộ thị trường TPDN riêng lẻ đang được giao dịch qua các tổ chức tư vấn.

thi truong trai phieu se di vao chieu sau

Tuy nhiên qua công tác quản lý giám sát, Bộ Tài chính cho rằng, thị trường TPDN vẫn tiềm ẩn một số rủi ro, cần giám sát chặt chẽ để thị trường phát triển lành mạnh. Trong số các TPDN phát hành riêng lẻ các tháng đầu năm 2021, TPDN có tài sản đảm bảo chiếm 50,9%; trái phiếu không có tài sản đảm bảo chiếm 49,1% (trong đó trái phiếu do các TCTD và CTCK phát hành chiếm 76%). Trong số 300 doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ trong các tháng đầu năm 2021, 207 doanh nghiệp phát hành trái phiếu có tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo của trái phiếu chủ yếu là bất động sản, chứng khoán, chương trình, dự án.

Như vậy, mặc dù tỷ lệ trái phiếu có tài sản đảm bảo cao nhưng theo Bộ Tài chính thực tế chất lượng tài sản đảm bảo chủ yếu là các dự án, tài sản hình thành trong tương lai hoặc cổ phiếu của doanh nghiệp. Giá trị của các tài sản này thường không định giá được chính xác hoặc có biến động mạnh theo diễn biến thị trường; theo đó, trường hợp thị trường bất động sản hoặc TTCK có biến động, giá trị tài sản đảm bảo có thể không đủ để thanh toán gốc, lãi trái phiếu. Bên cạnh đó, tài sản đảm bảo của trái phiếu có thể dùng để bảo đảm cho các khoản vay, khoản phát hành trái phiếu khác của doanh nghiệp do đó có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư.

Hoàn thiện khung khổ pháp lý về TPDN

Trước thực trạng thị trường TPDN có dấu hiệu tăng trưởng nóng, xuất hiện một số hiện tượng huy động vốn trái phiếu chưa tuân thủ quy định của pháp luật. Do đó, để thị trường tiếp tục phát triển bền vững, minh bạch và hiệu quả, Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về TPDN hướng tới mục tiêu phát triển thị trường ngày càng công khai, minh bạch, không chỉ để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn góp phần giúp thị trường TPDN Việt Nam phát triển nhanh trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp, từng bước giảm sự phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng.

Hiện, Bộ Tài chính đã tiến hành đánh giá tình hình thị trường thời gian qua để xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP về phát hành TPDN riêng lẻ. Theo đó, sẽ sửa đổi quy định về mục đích phát hành trái phiếu nhằm tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành trong việc sử dụng tiền thu từ phát hành trái phiếu đúng mục đích; Bổ sung quy định về xếp hạng tín nhiệm đối với một số loại trái phiếu phát hành nhằm tăng tính công khai, minh bạch, góp phần nâng cao chất lượng trái phiếu được phát hành, đồng thời giúp thị trường có thói quen sử dụng kết quả xếp hạng tín nhiệm để đánh giá rủi ro của trái phiếu, tiệm cận với thông lệ quốc tế, hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư.

Dự thảo cũng bổ sung quy định về đại diện người sở hữu trái phiếu để tăng cường việc giám sát mục đích sử dụng vốn trái phiếu của doanh nghiệp phát hành cũng như tăng cường giám sát việc thực hiện các cam kết khác của doanh nghiệp phát hành; Cách thức xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là đối tượng được phép đầu tư và giao dịch TPDN phát hành riêng lẻ; Bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc thiết lập thị trường giao dịch TPDN riêng lẻ tại sở giao dịch chứng khoán cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp nhằm tăng tính thanh khoản, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch, tăng cường quản lý, giám sát đối với các trái phiếu đưa vào giao dịch trên thị trường thứ cấp...

Ngoài ra, dự thảo nghị định cũng sửa đổi một số quy định về thời hạn và nội dung công bố thông tin nhằm khắc phục những bất cập thời gian vừa qua, đồng thời tăng cường tính minh bạch của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và việc sử dụng vốn phát hành trái phiếu của doanh nghiệp.

Đến nay, thị trường TPDN riêng lẻ đã có “hình hài”, đã có các tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Việc xây hệ thống là một nhiệm vụ quan trọng trong năm tới. Theo dự kiến của HNX, đến cuối năm 2022, "sẽ cố gắng ra mắt thị trường này". Tuy nhiên, để thị trường minh bạch sẽ không thể thiếu sự tham gia của các tổ chức định mức, xếp hạng tín nhiệm và các cơ quan quản lý.

Các chuyên gia chứng khoán nhận định, thị trường TPDN trong nửa đầu năm 2022 có thể sẽ “chững lại” nhất định để thích ứng với các văn bản hành lang pháp lý mới. Đồng thời cũng sẽ chịu tác động từ bối cảnh của nền kinh tế từ việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 cho đến triển vọng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song các chuyên gia đều nhìn nhận năm 2022, sẽ là một năm thị trường TPDN phát triển về chiều sâu và đi vào chất lượng hơn.

Để huy động hiệu quả kênh huy động vốn này, các doanh nghiệp bên cạnh phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh, cần tuân thủ các quy định về công tác phát hành, đặc biệt là sự công khai, minh bạch trong kế hoạch sử dụng vốn huy động…

Sẽ ra mắt thị trường TPDN vào cuối năm 2022?

Tính đến cuối năm 2021, HNX đã tiếp nhận 878 bộ hồ sơ công bố thông tin trước phát hành tại thị trường trong nước, 5 bộ hồ sơ công bố thông tin trước phát hành tại thị trường quốc tế. Qua tổng hợp thông tin của các tổ chức phát hành công bố qua chuyên trang cho thấy, tại thị trường trong nước, đã có 288 doanh nghiệp với 756 đợt phát hành thành công trái phiếu theo phương thức riêng lẻ với giá trị hơn 458.153 tỷ đồng, tăng 35,38% so với năm 2020. Tại thị trường nước ngoài, có 4 đợt phát hành TPDN thành công với giá trị phát hành thành công đạt 1.425 triệu USD, tăng gấp 7,7 lần so với năm 2020.

Để tiến tới quản lý giao dịch trái phiếu riêng lẻ trên thị trường giao dịch có tổ chức, HNX cho biết đã Ban hành quy trình vận hành chuyên trang thông tin TPDN. Đồng thời triển khai xây dựng hệ thống giao dịch TPDN và hệ thống tiêu chí giám sát TPDN. Bước đầu, sở đã thống nhất yêu cầu bài toán sau khi lấy ý kiến các đơn vị nghiệp vụ có liên quan và hiện đang triển khai xây dựng hệ thống, đồng thời đã hoàn thành hệ thống tiêu chí giám sát TPDN, báo cáo VNX và UBCKNN.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.550 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.580 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.596 22.896 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.640 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.605 22.892 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.930 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.620 22.820 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950