Thị trường vàng 17/9: Vàng thế giới vẫn giảm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed

09:49 | 17/09/2020

Bất chấp quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, giá vàng thế giới vẫn giảm khá mạnh. Tuy nhiên theo giới chuyên gia, ngày càng có nhiều dấu hiệu kỹ thuật cho thấy kim loại quý này đã sẵn sàng để "thăng hoa".

Tính đến 9 giờ sáng nay (17/9) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 12,1 USD/oz (0,62%) so với đóng cửa phiên gần nhất, hiện ở mức 1.946,7 USD/oz. Giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.941,2 -1.974,5 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12 giảm 2,1 USD/oz (0,11%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.964,1 USD/oz.

thi truong vang 179 vang the gioi van giam sau quyet dinh giu nguyen lai suat cua fed

Trái với một số dự báo trước đó, giá vàng vẫn đi xuống bất chấp việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vào đêm qua theo giờ Việt Nam đã công bố giữ nguyên lãi suất thấp 0%-0,25%.

Nhưng, thị trường cho rằng, ảnh hưởng từ quyết định trên có thể còn độ trễ, Việc Fed không thay đổi lãi suất khiến giới phân tích dự báo sẽ có một đợt bán tháo USD, đồng nghĩa giá trị của đồng tiền này có thể tiếp tục "bốc hơi", tạo đà cho giá vàng tăng lên.

Nói về xu hướng của lãi suất, không ít nhà phân tích cho rằng Fed có thể giữ lãi suất gần mức 0% trong 3 năm hoặc hơn và gói cứu trợ kinh tế có thể tăng trên 10 nghìn tỷ USD khi các nhà hoạch định chính sách nỗ lực vực dậy nền kinh tế Mỹ thoát khỏi suy thoái.

Với những động thái bơm tiền của Fed, nhiều khả năng vàng sẽ thử lại ngưỡng 2.000 USD/oz nếu vượt lên trên ngưỡng kháng cự quan trọng 1.973 USD/oz. Theo khảo sát của Empire State, về dài hạn, vàng được dự báo vẫn hướng đến ngưỡng tâm lý chủ chốt là 2.000 USD/oz.

Trong khi đó, phân tích kỹ thuật cho thấy, vàng đang bắt đầu một đợt tăng giá mới, hướng tới mục tiêu 2.250 USD/oz hoặc cao hơn.

Trong một dự báo vừa được đưa ra, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng suy thoái toàn cầu trong năm nay sẽ không sâu như dự kiến, nhưng sự phục hồi trong năm tới cũng sẽ khiêm tốn hơn so với dự báo.

Theo dự báo mới nhất, OECD cho rằng GDP toàn cầu sẽ giảm 4,5% trong năm 2020 và quay trở lại tăng trưởng khoảng 5% vào năm 2021.

Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo rằng các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương bị tổn thương bởi đại dịch Covid-19 sẽ phục hồi theo hình chữ "L", một sự hồi phục chậm chạm sau giai đoạn sụt giảm, thay vì hồi phục nhanh theo hình chữ “V”.

Theo ADB, kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ suy giảm 0,7% trong năm nay, trái với dự báo tăng trưởng 0,1% được đưa ra hồi tháng 6/2020. Thậm chí, một số nước có thể chứng kiến tình trạng hỗn loạn tài chính do ảnh hưởng tiêu cực do áp dụng những quy định về giãn cách xã hội nhằm ngăn chặn virus SARS-CoV-2.

thi truong vang 179 vang the gioi van giam sau quyet dinh giu nguyen lai suat cua fed

Tại thị trường trong nước, tính đến 9 giờ sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,10 - 56,55 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua trong khi giữ nguyên chiều bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,10 - 56,57 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua trong khi giữ nguyên chiều bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, tại Hà Nội, giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 56,15 - 56,50 triệu đồng/lượng, giảm 20 nghìn đồng/lượng ở chiều mua và 50 nghìn đồng ở chiều bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 56,15 - 56,60 triệu đồng/lượng, giữ nguyên chiều mua trong khi tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250