Thị trường vàng 18/9: Nhà đầu tư tiếp tục đặt niềm tin vào vàng

09:39 | 18/09/2020

Các nhà đầu tư vẫn đang đặt niềm tin vào vàng, không chỉ bởi đây là địa chỉ an toàn vốn mà còn có thể sinh lời không nhỏ trong bối cảnh hàng loạt bất ổn trên thế giới cùng những hậu quả nặng nề gây ra bởi đại dịch Covid-19 khiến dòng tiền chuyển khỏi các kênh rủi ro khác.

Tính đến 9 giờ sáng nay (18/9) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 5,9 USD/oz (0,3%) so với đóng cửa phiên gần nhất, hiện ở mức 1.950,6 USD/oz. Giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.931,2 -1.956,4 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12 tăng 9,8 USD/oz (0,5%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.959,7 USD/oz.

Như vậy, trong phiên sáng nay giá vàng đã đảo chiều và lấy lại một phần đã mất ở phiên trước. Tính đến cuối giờ chiều qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay đã giảm 10,97 USD, tương đương 0,6%. Trong khi đó, giá vàng tháng 12 đã giảm 20,60 USD, tương đương 1,1%.

thi truong vang 189 nha dau tu tiep tuc dat niem tin vao vang

Trong thông báo chính thức sau cuộc họp kéo dài hai ngày 15-16/9, Fed cho biết sẽ tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục gần bằng 0% như hiện nay, đồng thời cam kết duy trì phạm vi mục tiêu này cho đến khi điều kiện thị trường lao động được cải thiện để đạt được việc làm tối đa và lạm phát ở mức mong muốn.

Quyết định của Fed trên thực tế không bất ngờ với thị trường và nó cũng không ảnh hưởng tới niềm tin của giới đầu tư vào đồng USD. Fed đã không có một chương trình kích thích gì mới.

Về dài hạn, vàng được dự báo còn tăng giá do hàng loạt bất ổn trên thế giới. Chính Fed cũng đã cảnh báo về triển vọng không chắc chắn của nền kinh tế Mỹ. Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng dù đà phục hồi tốt hơn dự kiến, hoạt động chung của nền kinh tế Mỹ vẫn chưa đạt mức trước khi bùng phát đại dịch.

Trong một diễn biến khác, Ngân hàng trung ương Anh (BOE) cũng vừa quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức thấp kỷ lục 0,1%/năm trước nguy cơ kinh tế bất ổn, lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao do hậu quả của Covid-19. BOE cho rằng viễn cảnh kinh tế Anh vẫn “vô cùng bất ổn".

Nhận định về giá vàng, Ngân hàng Canada CIBC cho rằng trong quý III, kim loại quý nàysẽ đạt mức giá trung bình ở 1.925 USD/oz và tăng lên 2.000 USD/oz trong quý IV; 2.300 USD/oz vào năm 2021; 2.200 USD trong năm 2020 trước khi trở về mức 2.000 USD/oz vào năm 2024.

Các nhà đầu tư vẫn đang đặt niềm tin vào vàng, không chỉ bởi đây là địa chỉ an toàn vốn mà còn có thể sinh lời không nhỏ trong bối cảnh hàng loạt bất ổn trên thế giới cùng những hậu quả nặng nề gây ra bởi đại dịch Covid-19 khiến dòng tiền chuyển khỏi các kênh rủi ro khác: lãi suất thực tế đang rất thấp, gánh nặng nợ chính phủ Mỹ ngày càng tăng cùng với sự bất ổn địa chính trị phát sinh từ cuộc bầu cử sắp tới của Mỹ.

Bên cạnh đó, một số biện pháp hỗ trợ thêm cho kinh tế Mỹ trước sự lây lan không suy giảm của Covid-19 có thể được triển khai trong vài tháng tới sẽ làm cho USD suy yếu cũng sẽ đẩy giá vàng đi lên.

thi truong vang 189 nha dau tu tiep tuc dat niem tin vao vang

Tại thị trường trong nước, tính đến 9 giờ sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,10 - 56,55 triệu đồng/lượng, không đổi so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,10 - 56,57 triệu đồng/lượng, không đổi so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, tại Hà Nội, giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 56,15 - 56,50 triệu đồng/lượng, không đổi so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 56,00 - 56,50 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua và 100 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.040 23.270 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23..285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.066 23.266 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.450
Vàng SJC 5c
56.000
56.470
Vàng nhẫn 9999
53.650
54.150
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850