Thị trường vàng 24/2: Phát biểu của Chủ tịch Fed không ảnh hưởng đến giá vàng

09:53 | 24/02/2021

Giá vàng ít biến động sau những phát biểu của Chủ tịch Fed, Jerome Powell, trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ, khi ông cho biết sự phục hồi kinh tế “không đồng đều và quá trình này còn lâu mới hoàn tất”.

thi truong vang 242 phat bieu cua chu tich fed khong anh huong den gia vang Thị trường vàng 23/2: "Rón rén" phục hồi
thi truong vang 242 phat bieu cua chu tich fed khong anh huong den gia vang Thị trường vàng ngày 22/2: Dù tăng trở lại, giá vàng được dự báo giảm trong ngắn hạn
thi truong vang 242 phat bieu cua chu tich fed khong anh huong den gia vang

Tính đến 9h sáng nay (24/2) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 5,3 USD/oz (+0,29%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.811,8 USD/oz; giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.796 - 1.815,7 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 4/2021 tăng 5 USD/oz (+0,28%) so với cuối phiên trước, niêm yết ở mức 1.810,9 USD/oz.

Chốt phiên giao dịch hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,3%, trong khi giá vàng tương lai tháng 4 giảm 0,1%.

Tâm điểm của thị trường phiên hôm qua và hôm nay là những phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Jerome Powell về chính sách tiền tệ hiện tại của Fed trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ.

Trong ngày điều trần đầu tiên, Chủ tịch Fed đã nhấn mạnh cả những cải thiện tích cực trong nền kinh tế, cũng như giả định rằng nền kinh tế Mỹ tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch.

Ông tuyên bố chính sách tiền tệ vẫn luôn phù hợp kể từ khi dịch COVID-19 bắt đầu và cả khi đại dịch lan rộng. Fed cam kết duy trì lãi suất thấp và nới lỏng định lượng thông qua việc mua 120 tỷ USD trái phiếu và chứng khoán thế chấp mỗi tháng.

"Fed sẽ tiếp tục việc mua trái phiếu hoặc nới lỏng định lượng cho đến khi có tiến bộ đáng kể trên thị trường lao động và lạm phát tiến gần hơn đến mục tiêu dài hạn 2%", Chủ tịch Fed nói.

Trên thực tế, nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức 2% vẫn luôn được duy trì, thậm chí Fed cho phép lạm phát tăng cao hơn mục tiêu nhằm đảm bảo đạt nhiệm vụ chính là việc làm tối đa.

Trong khi nhiều nhà đầu tư và những người tham gia thị trường đang tích cực đặt cược vào cổ phiếu của Mỹ cao hơn, Chủ tịch Powell đã nói rằng: "Mặc dù nền kinh tế Mỹ đang hồi phục, nhưng còn một chặng đường dài so với mục tiêu việc làm và lạm phát của chúng tôi. Mối quan tâm chính và được coi là nhiệm vụ chính của Fed, đó là tình trạng toàn dụng lao động. Hơn 10 triệu người Mỹ vẫn đang thất nghiệp là một vấn đề cần thời gian để giải quyết".

Đáng chú ý, Chủ tịch Fed đã nhấn mạnh rằng một gói kích thích tài khóa lớn từ chính phủ chưa chắc sẽ gây ra vấn đề về lạm phát.

Về chủ đề lợi suất trái phiếu tăng trong thời gian gần đây, Chủ tịch Powell cho rằng lợi suất cao hơn thực sự chỉ là "một lời tuyên bố về sự tự tin" cho một triển vọng kinh tế Mỹ đang được cải thiện. Nhưng ông cũng cảnh báo rằng: "Chúng ta không nên đánh giá thấp những thách thức mà chúng ta đang phải đối mặt".

Mặc dù các tuyên bố của Chủ tịch Fed cùng với khả năng cao rằng các nhà lập pháp sẽ thông qua gói hỗ trợ kích thích 1,9 nghìn tỷ USD, nhưng dường như giá vàng chưa phản ứng theo kỳ vọng tăng sau thông tin này.

“Vàng không thể đảo chiều để tăng mạnh hơn cho đến khi chúng ta có kỳ vọng lạm phát tăng hoặc Fed nói về việc kiểm soát đường cong lợi suất”, chuyên gia phân tích Kyle Rodda của IG Market nhận định.

Ở góc độ kỹ thuật, vàng hiện vẫn đang duy trì xu hướng giá giảm và hiện tại đang thấp hơn nhiều so với đường trung bình động 200 ngày. Điểm tích cực đó là mức thấp nhất của tuần trước ở 1.760 USD/oz không chỉ được duy trì mà giá vàng còn tăng trở lại trên 1.800 USD/oz.

"Khi giá vàng có thể đóng cửa trên mức kháng cự chính 1.850 USD/oz thì nó sẽ được củng cố để có thể tăng trở lại", Gary Wagner, chuyên gia phân tích kim loại quý của Kitco nhận định.

thi truong vang 242 phat bieu cua chu tich fed khong anh huong den gia vang

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,05 - 56,55 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,05 - 56,57 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI được niêm yết tại Hà Nội ở mức 56,10 - 56,60 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả giá mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 56,00 - 56,55 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.919 23.169 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.956 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.963 23.163 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
55.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
55.480
Vàng SJC 5c
55.100
55.500
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000