Thị trường vàng 26/2: Xu hướng giảm khó lý giải

09:41 | 26/02/2021

Mặc dù hồi phục nhẹ trong phiên giao dịch sáng sớm nay, giá vàng vẫn đang trong xu hướng giảm. Đáng chú ý là điều này diễn ra cùng lúc với triển vọng lạm phát tăng và đồng đô la mất giá - mối tương quan khó lý giải.

thi truong vang 262 xu huong giam kho ly giai Thị trường vàng 25/2: Bạc xanh suy yếu kìm đà giảm giá vàng
thi truong vang 262 xu huong giam kho ly giai Thị trường vàng 24/2: Phát biểu của Chủ tịch Fed không ảnh hưởng đến giá vàng
thi truong vang 262 xu huong giam kho ly giai

Tính đến 9h sáng nay (26/2) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng nhẹ 0,9 USD/oz (+0,05%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.771 USD/oz; giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.764,8 - 1.801,6 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 4/2021 giảm 6,4 USD/oz (-0,36%) so với cuối phiên trước, niêm yết ở mức 1.769 USD/oz.

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay đã giảm gần 1,9%, trong khi giá vàng tương lai tháng 4 giảm 1,3%.

Giá vàng tiếp tục xu hướng giảm khi lợi tức trái phiếu tăng vọt dẫn đến việc các nhà đầu tư bán tháo mạnh. Trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ được giao dịch với giá trị cao nhất trong một năm.

Theo MarketWatch, lợi suất trái phiếu tăng, với trái phiếu kho bạc 10 năm tăng lên trên ngưỡng tâm lý 1,5%, đã gây áp lực lên thị trường cổ phiếu và vàng, điều này buộc các nhà đầu tư phải đánh giá lại việc sở hữu các loại tài sản có giá trị khác khi trái phiếu không có rủi ro lại nhận lợi suất cao.

Lợi suất trái phiếu càng tăng nhanh thì vàng càng giảm mạnh. Kim loại quý này đang có một năm 2021 khó khăn và điều duy nhất có thể giúp vàng ổn định lại là ngân hàng trung ương phải chặn lại đà tăng của lợi suất trái phiếu. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ có nhiều cơ hội để làm điều này, nhưng hiện tại có vẻ như họ đang tập trung quan sát diễn biến của thị trường.

Đang có sự "lệch pha" về kỳ vọng giữa các nhà đầu tư và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) về việc bao giờ nền kinh tế sẽ ổn định trở lại. Trong khi Fed vẫn tỏ ra thận trọng và đã tuyên bố sẽ giữ lãi suất cực thấp, thì những thành viên thị trường tỏ ra lạc quan hơn và tăng đặt cược cho lợi tức trái phiếu cao hơn.

Theo Reuters, "các quan chức Fed cho rằng sự gia tăng lợi suất trái phiếu phản ánh niềm tin rằng một sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ đang ở "ngay trước mắt" và có thể là trong nửa cuối năm nay, khi nhiều vắc-xin được phân phối hơn và nhiều khả năng sẽ có nhiều kích thích tài chính hơn".

Đa số các thành viên của Fed tin rằng sự gia tăng gần đây của lợi suất trái phiếu là bình thường và Fed sẽ tiếp tục duy trì chính sách hiện tại, yêu cầu tăng việc làm tối đa bằng cách giữ lãi suất thấp và tiếp tục chương trình mua trái phiếu chính phủ và chứng khoán có bảo đảm. Điều này sẽ tiếp tục hướng nền kinh tế phục hồi nhanh hơn về mức trước khi đại dịch xảy ra.

Mặc dù tình trạng bán tháo cổ phiếu liên quan đến lo ngại lạm phát là điều dễ hiểu, nhưng đà giảm của vàng lại tỏ ra khó lý giải khi nó được coi như một biện pháp phòng ngừa lạm phát.

Kỳ lạ hơn là khi giá vàng đang đi xuống thì đồng bạc xanh cũng đang suy yếu. Trong khi, vàng và USD thường có xu hướng di chuyển ngược nhau.

thi truong vang 262 xu huong giam kho ly giai

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 55,90 - 56,30 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 200 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 55,90 - 56,32 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 200 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI được niêm yết tại Hà Nội ở mức 55,85 - 56,30 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 200 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 55,80 - 56,30 triệu đồng/lượng, giảm 200 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.923 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.972 23.184 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.966 23.166 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.830
55.250
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.830
55.230
Vàng SJC 5c
54.830
55.250
Vàng nhẫn 9999
51.250
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550