Thị trường vàng 9/4: Vọt lên mức cao nhất hơn 1 tháng

09:22 | 09/04/2021

Mặc dù đảo chiều giảm nhẹ trong phiên sáng nay, những thông tin từ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và đồng bạc xanh suy yếu vẫn đang là các yếu tố giúp giá vàng giao dịch quanh mức cao nhất hơn 1 tháng.

thi truong vang 94 vot len muc cao nhat hon 1 thang Thị trường vàng ngày 8/4: Tiếp đà giảm, nhưng triển vọng vẫn sáng
thi truong vang 94 vot len muc cao nhat hon 1 thang Thị trường vàng ngày 7/4: Hạ nhiệt sau nhiều phiên khởi sắc

thi truong vang 94 vot len muc cao nhat hon 1 thang

Tính đến 9h sáng nay (9/4) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 0,2 USD/oz (-0,01%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.755,6 USD/oz; giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.738,2 - 1.759,7 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2021 giảm 1,2 USD/oz (-0,07%) so với cuối phiên trước, niêm yết ở mức 1.757 USD/oz.

Như vậy, giá vàng đã đảo chiều sau một phiên hứng khởi. Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 1,11%, trong phiên có lúc giá đạt mức cao nhất kể từ ngày 1/3/2021 là 1,758.45 USD/oz. Trong khi đó, giá vàng tương lai tăng 1%.

Theo các chuyên gia phân tích, góp phần đẩy giá vàng tăng ở thời điểm nay có sự hỗ trợ từ sự suy yếu của đồng bạc xanh. Hôm qua, chỉ số bạc xanh đã giảm -0,40%.

Bên cạnh đó, thị trường dường như bắt đầu "ngấm" thông tin liên quan đến biên bản cuộc họp chính sách tháng trước của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa được công bố.

Đáng chú ý, Fed cho biết, họ không "đơn độc" trong nhiệm vụ tiếp tục duy trì mức lãi suất phù hợp và bổ sung 120 tỷ USD mỗi tháng vào bảng cân đối tài sản của mình thông qua việc mua trái phiếu và chứng khoán thế chấp.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết, họ ủng hộ quyết định của Fed và IMF cũng có ý định duy trì một chính sách tiền tệ cực kỳ phù hợp. Trong Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu mới nhất của mình, IMF đã gửi một thông điệp mạnh mẽ rằng các ngân hàng trung ương toàn cầu nên tiếp tục duy trì chính sách ôn hòa.

Cả IMF và Fed đều nhận thức sâu sắc rằng chúng ta đang sống trong một thế giới mà nền kinh tế mang tính toàn cầu, trong đó chuyển động tích cực ở bất kỳ quốc gia lớn nào cũng có tác động lan tỏa đến các quốc gia khác, và việc tăng lãi suất trở lại quá nhanh có thể dễ dàng kìm hãm sự phục hồi kinh tế ​ở Mỳ và ở một quốc gia ở châu Âu.

Trong khi IMF và Fed đều tiếp tục duy trì các chính sách cực kỳ phù hợp, điều này có thể sẽ tác động tiêu cực đến cả đồng euro và USD, khiến hai đồng tiền đều mất giá và tạo ra những lo ngại mới về lạm phát gia tăng, điều này có lợi cho giá vàng.

Ở thông tin mới nhất, tại cuộc họp trực tuyến do IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức, Chủ tịch Fed Jerome Powell đã thừa nhận rằng cần nhiều yếu tố kết hợp với nhau để hỗ trợ một "triển vọng tươi sáng" hơn cho nền kinh tế Mỹ.

Ông Powell nói rằng những yếu tố đó là công cụ đưa quốc gia “đi đúng hướng để cho phép nền kinh tế sớm mở cửa trở lại hoàn toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng nhiều người Mỹ không có việc làm sẽ phải "vật lộn" để tìm việc làm mới vì một số ngành công nghiệp có thể sẽ bị thu hẹp so với trước đại dịch.

"Điều quan trọng cần nhớ là chúng ta sẽ không quay trở lại y như nền kinh tế trước đây. Nó sẽ là một nền kinh tế khác”, Chủ tịch Fed lưu ý.

Ở chiều thông tin khác, dữ liệu mới được công bố cho thấy số người Mỹ lần đầu nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp bất ngờ tăng trong tuần trước.

“Đồng bạc xanh và lợi suất trái phiếu Mỹ đang giảm và đó là chất xúc tác quan trọng ngay lúc này… và số lượng việc làm không ấn tượng cũng đang giúp giá vàng leo cao”, Bob Haberkorn, chiến lược gia thị trường cấp cao tại RJO Futures, nhận định.

thi truong vang 94 vot len muc cao nhat hon 1 thang

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 55,03 - 55,43 triệu đồng/lượng, tăng 180 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 55,03 - 55,45 triệu đồng/lượng, tăng 180 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội niêm yết ở mức 55,05 - 55,40 triệu đồng/lượng, tăng 200 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 150 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại TP. HCM giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 55,00 - 55,40 triệu đồng/lượng, tăng 200 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 100 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.950 23.160 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.960 23.160 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
51.900
52.500
Vàng nữ trang 9999
51.500
52.200