Thị trường vàng ngày 8/4: Tiếp đà giảm, nhưng triển vọng vẫn sáng

09:27 | 08/04/2021

Mặc dù đang được giao dịch thấp hơn, nhưng các chuyên gia phân tích cho rằng vàng vẫn có cơ hội tăng giá với các yếu tố cơ bản hỗ trợ trong dài hạn...

thi truong vang ngay 84 tiep da giam nhung trien vong van sang Thị trường vàng ngày 7/4: Hạ nhiệt sau nhiều phiên khởi sắc
thi truong vang ngay 84 tiep da giam nhung trien vong van sang Thị trường vàng ngày 6/4: Bạc xanh suy yếu giúp giá vàng trụ vững

thi truong vang ngay 84 tiep da giam nhung trien vong van sang

Tính đến 9h sáng nay (8/4) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 2,6 USD/oz (-0,15%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.735 USD/oz; giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.730,4 - 1.744,2 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2021 giảm 5,7 USD/oz (-0,33%) so với cuối phiên trước, niêm yết ở mức 1.735,9 USD/oz.

Tính đến cuối phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,4%, trong khi giá vàng tương lai tháng 6 giảm 0,1%.

Giá vàng đang giao dịch thấp hơn sau khi ghi nhận những bước tăng giá tích cực trong hai tuần qua. Sự sụt giảm được cho là kết quả đến từ việc đồng bạc xanh tăng nhẹ, sự gia tăng của lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ 10 năm và nhà đầu tư "đặt cược" giá kim loại quý thấp hơn.

Biên bản cuộc họp tháng trước của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã được công bố, cho thấy các thành viên đã nhất trí giữ lãi suất trong khoảng từ 0 - 0,25%. Điều này phù hợp với nhiệm vụ của Fed là để lãi suất ở mức tối thiểu trong suốt năm 2021 và rất có thể cho đến năm 2022 hoặc 2023.

"Mặc dù thừa nhận rằng triển vọng trung hạn về tăng trưởng và việc làm đã được cải thiện, tuy nhiên sự không chắc chắn xung quanh triển vọng đó ngày càng tăng. Các thành viên tham gia cuộc họp đồng ý rằng con đường phát triển của nền kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào tình hình dịch COVID-19, bao gồm cả sự tiến bộ về tiêm chủng. Hầu hết các thành viên đều đồng ý rằng đại dịch tiếp tục gây ra rủi ro đáng kể cho triển vọng kinh tế", biên bản cho biết.

Paul Ashworth, nhà kinh tế trưởng tại Capital Economics, nói rằng biên bản mới được công bố phù hợp với kỳ vọng của ông rằng Fed sẽ tiếp tục duy trì chính sách ôn hòa. Ông nói thêm rằng không có thông tin mới nào cho thấy Fed sẽ sớm điều chỉnh chính sách tiền tệ của mình.

Mặc dù giá vàng đã phải "vật lộn" để tìm kiếm đà tăng bền vững từ đầu năm, nhiều nhà phân tích vẫn lạc quan rằng kim loại quý này sẽ vẫn được hỗ trợ tốt do lãi suất sẽ vẫn ở gần mức thấp nhất.

Các số liệu mới được công bố cho thấy các chi phí mà chính phủ Hoa Kỳ phải gánh chịu là đáng báo động.

Theo The Hill, thâm hụt ngân sách liên bang đã tăng lên 736 tỷ USD trong bốn tháng đầu tiên của năm tài chính 2021. Dự báo nợ quốc gia cho năm 2021 sẽ đạt 2,3 nghìn tỷ USD, dẫn đến việc các cố vấn của Nhà Trắng nói rằng triển vọng kinh tế Mỹ đang ở trong tình trạng "thực sự nghiêm trọng".

“Nợ chính phủ so với GDP của Mỹ dự kiến ​​sẽ đạt 125% vào cuối năm 2021", các nhà phân tích của Trading Economics nói.

Thị trường chứng khoán tiếp tục đạt mức cao kỷ lục mới, điều đó đến từ việc gia tăng nợ quốc gia. Nợ quốc gia của Mỹ hiện là khoản nợ lớn nhất được ghi nhận trong lịch sử. Suy thoái kinh tế có thể xuất hiện từ khoản nợ đang tăng lên này, và điều đó sẽ tiếp tục hỗ trợ giá vàng cao hơn.

thi truong vang ngay 84 tiep da giam nhung trien vong van sang

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 54,73 - 55,13 triệu đồng/lượng, giảm 120 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 54,73 - 55,13 triệu đồng/lượng, giảm 120 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội niêm yết ở mức 54,70 - 55,15 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại TP. HCM giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 54,70 - 55,10 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.945 23.155 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.911 23.161 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 23.000 23.170 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.180 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.966 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.958 23.158 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.960 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.010 23.170 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.650
55.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.650
55.050
Vàng SJC 5c
54.650
55.070
Vàng nhẫn 9999
50.750
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
51.050