Thị trường vàng sáng 1/12: Tiếp đà tăng

08:40 | 01/12/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà tăng của phiên trước sau khi thị trường phản ứng với bài phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell tại một sự kiện diễn ra vào hôm qua. 

thi truong vang sang 112 tiep da tang Thị trường vàng sáng 30/11: Tiếp tục nhích nhẹ
thi truong vang sang 112 tiep da tang Thị trường vàng sáng 29/11: Tiếp tục giảm nhẹ

Tính đến 8h sáng nay (1/12) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 7,8 USD (+0,44%) so với mở cửa lên 1.776,5 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.745,1 - 1.780,2 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 2/2023 tăng 32,7 USD (+1,86%), hiện giao dịch quanh mức 1.792,6 USD/oz.

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 1%, trong khi giá vàng tương lai giảm 0,2%.

thi truong vang sang 112 tiep da tang

Vàng bật tăng sau khi thị trường phản ứng với bài phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell tại một sự kiện diễn ra vào hôm qua.

"Sẽ là hợp lý khi điều chỉnh tốc độ tăng lãi suất vì các hành động chính sách của chúng ta đã đến mức đủ để kiềm chế và hạ nhiệt lạm phát... Thời điểm để điều chỉnh tốc độ tăng lãi suất có thể đến ngay sau cuộc họp tháng 12", ông Powell nói.

Đáp lại mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, ông Powell đã nhắc đến việc Fed sẽ bắt đầu giảm tốc độ tăng lãi suất, dù chưa đề cập đến lộ trình mất bao lâu để đạt được mục tiêu lạm phát.

"Có khả năng để khôi phục lại sự ổn định giá cả sẽ cần phải duy trì chính sách thắt chặt trong một thời gian... Lịch sử đã cảnh báo mạnh mẽ về việc không nới lỏng chính sách quá sớm. Chúng tôi sẽ duy trì chính sách hiện tại cho đến khi hoàn thành mục tiêu lạm phát", Chủ tịch Fed nói.

Bài phát biểu của Chủ tịch Powell đã làm giảm bớt mối lo ngại của các nhà đầu tư sau các quan điểm diều hâu của các lãnh đạo khác của Fed thể hiện mới đây - những người đã nhắc rất nhiều về các đợt tăng lãi suất sắp tới.

Đáng chú ý, phát biểu của Chủ tịch Powell không mâu thuẫn với những tuyên bố trước đó của các thành viên khác của Fed, nhưng cách đặt vấn đề của ông Powell được cho là "nhẹ nhàng" hơn rất nhiều.

Về bản chất, Chủ tịch Powell đã củng cố khả năng có thể chỉ tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng 12. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng việc làm chậm tốc độ tăng lãi suất sẽ đòi hỏi Fed phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt trong một thời gian dài hơn.

Theo các chuyên gia, đợt phục hồi gần đây của vàng từ 1.621 USD/oz lên gần 1.800 USD/oz đã phản ánh sự thay đổi lớn trong tâm lý thị trường của các nhà đầu tư. Nó cho thấy họ đang tập trung vào lạm phát và việc hạ thấp lạm phát để khôi phục sự ổn định về giá sẽ là một quá trình kéo dài nhiều năm.

“Thị trường chỉ tập trung tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy Fed sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất xuống còn 50 điểm cơ bản vào tháng 12, điều này đã hỗ trợ kim loại quý màu vàng”, trader cấp cao tại Heraeus Precious Metals, Tai Wong nói và thêm rằng: “Thị trường đang "phớt lờ" phần còn lại trong bài phát biểu của ông Powell, trong đó nhấn mạnh lãi suất sẽ ở mức cao hơn trong thời gian dài hơn”.

Thị trường hiện đang chờ đợi dữ liệu việc làm của Mỹ công bố vào ngày mai - thông tin có thể ảnh hưởng các quyết định chính sách tiếp theo của Fed.

thi truong vang sang 112 tiep da tang

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 66,50 - 67,30 triệu đồng/lượng, không đổi với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 66,50 - 67,32 triệu đồng/lượng, không đổi với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội đang niêm yết ở 66,40 - 67,20 triệu đồng/lượng, không đổi với cuối phiên trước đó, nhưng đã tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với sáng hôm qua.

Tại TP. HCM giá vàng DOJI đang niêm yết ở mức 66,20 - 67,20 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước, nhưng đã giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với sáng hôm qua.

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700