Thị trường vàng sáng 13/5: Lại giảm dưới sức ép của bạc xanh

08:34 | 13/05/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà giảm của phiên hôm qua khi bạc xanh gia tăng sức mạnh đã gây sức ép cho kim loại quý màu vàng này.

thi truong vang sang 135 lai giam duoi suc ep cua bac xanh Thị trường vàng sáng 12/5: Kéo dài chuỗi tăng giá
thi truong vang sang 135 lai giam duoi suc ep cua bac xanh Thị trường vàng sáng 11/5: Tiếp đà giảm
thi truong vang sang 135 lai giam duoi suc ep cua bac xanh

Tính đến 8h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 0,4 USD (-0,02%) so với mở cửa xuống 1821,1 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.810 - 1.855,2 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2022 giảm 3,4 USD/oz (-0,19%), hiện giao dịch quanh mức 1.821,2 USD/oz.

Chốt phiên ngày hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 1,5%, trong khi giá vàng tương lai giảm 1,7%.

Theo các chuyên gia phân tích, thị trường vàng đang ở trong "vùng nguy hiểm" khi giá tiến gần hơn tới 1.800 USD/oz.

Hôm qua, chỉ số bạc xanh tiếp tục tăng mạnh và chạm mức cao nhất trong 20 năm ở 104,80 điểm. Điều này khiến vàng gặp áp lực lớn và quay đầu giảm giá.

Mặc dù vàng có hỗ trợ vững chắc ở mức 1.800 USD/oz nhưng các chuyên gia lo ngại rằng việc liên tục phá vỡ các mức hỗ trợ có thể dẫn đến tình trạng bán tháo.

“Đồng đô la Mỹ đã đặt vàng vào vùng nguy hiểm và nếu ngưỡng kháng cự 1.800 USD/oz tiếp tục bị phá vỡ thì nó có thể dẫn đến việc bán kỹ thuật hơn nữa. Vàng sẽ khó có thể thu hút sự chú ý của nhà đầu tư cho đến khi động thái tăng giá của bạc xanh kết thúc", nhà phân tích thị trường cấp cao Edward Moya của OANDA nhận định.

Giá vàng tỏ ra khá chật vật để tăng mạnh trở lại sau khi xuống dưới mức 1.900 USD/oz, cũng trùng khớp với diễn biến trên thị trường chứng khoán Mỹ. Các nhà đầu tư đã chuyển sang tâm lý chấp nhận rủi ro do lo ngại về khả năng chống lạm phát mà không gây ra suy thoái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Các chiến lược gia tại TD Securities cho biết, tình trạng bán tháo trên toàn thị trường đang tạo ra khoảng trống thanh khoản, điều này cũng làm tổn hại đến vàng.

Ở thông tin khác, hôm qua, Thượng viện Mỹ xác nhận Chủ tịch Fed Jerome Powell tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai sau cuộc bỏ phiếu.

Cuộc bỏ phiếu cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ đối với ông Powell sau khi Fed quyết định tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản vào tháng Năm, mức tăng cao nhất kể từ năm 2000.

Theo công cụ FedWatch Tool của CME, thị trường hiện đang định giá 93% xác suất lãi suất sẽ tăng thêm 50 điểm cơ bản vào tháng Sáu và 90% tăng cùng mức này vào tháng Bảy.

“Lạm phát có thể sẽ vẫn cao hơn trước đại dịch COVID-19 vì chi phí tiền lương đang tăng mạnh do thị trường lao động thiếu cung. Do đó, Fed vẫn chịu áp lực tăng lãi suất đáng kể. Các nhà kinh tế của chúng tôi dự đoán lãi suất sẽ tăng thêm 50 điểm cơ bản tại mỗi cuộc họp trong ba cuộc họp tiếp theo của Fed và lãi suất chính sách có khả năng đạt 3,0% vào cuối năm nay", chuyên gia phân tích Daniel Briesemann của Commerzbank nói.

Mặc dù vàng được xem là loại tài sản phòng ngừa lạm phát và là một kênh đầu tư an toàn trong thời kỳ bất ổn kinh tế và chính trị nhưng nó cũng rất nhạy cảm với sự gia tăng lãi suất của Mỹ, vì điều đó làm tăng chi phí cơ hội cho việc nắm giữ kim loại không đem lại lợi suất này.

Ở thông tin khác, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hôm qua tiếp tục giảm mạnh 5,8 tấn vàng nắm giữ xuống còn 1.060,82 tấn.

thi truong vang sang 135 lai giam duoi suc ep cua bac xanh

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 69,70 - 70,30 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 69,70 - 70,32 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội được niêm yết ở mức 69,55 - 70,15 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 69,50 - 70,20 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400