Thị trường vàng sáng 18/5: Đảo chiều giảm trở lại

09:01 | 18/05/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà giảm của phiên trước đó trong bối cảnh quan điểm diều hâu hơn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang gây áp lực lên kim loại quý này.  

thi truong vang sang 185 dao chieu giam tro lai Thị trường vàng sáng 17/5: Tiếp tục hồi phục
thi truong vang sang 185 dao chieu giam tro lai Thị trường vàng sáng 16/5: Tăng trong sáng đầu tuần

Tính đến 8h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 1,6 USD (-0,09%) so với mở cửa xuống 1.814,1 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.813,2 - 1.836,6 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2022 giảm 5,8 USD/oz (-0,32%), hiện giao dịch quanh mức 1.813,1 USD/oz.

thi truong vang sang 185 dao chieu giam tro lai

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,2%, trong khi giá vàng tương lai tăng 0,3%.

Giá vàng đảo chiều giảm khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell cho biết, việc thắt chặt chính sách tiền tệ có thể trở nên quyết liệt hơn nếu lạm phát không giảm.

"Những gì chúng ta cần thấy là các bằng chứng rõ ràng và thuyết phục rằng áp lực lạm phát đang giảm và nếu điều đó xảy ra thì chúng ta có thể can thiệp "chậm lại". Tuy nhiên, nếu chúng ta không thấy điều đó thì sẽ phải xem xét áp dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn", Chủ tịch Powell phát biểu tại một sự kiện trực tiếp của Wall Street Journal.

"Lạm phát có thể sắp giảm, đó là những gì chúng ta thực sự cần thấy. Nhưng nếu cần thiết để phải áp dụng mức tăng lãi suất vượt trội hơn nữa thì chúng tôi sẽ không ngần ngại làm điều đó...", ông nói.

Chủ tịch Fed cũng thừa nhận rằng thị trường tài chính bị bán tháo trong tuần qua là thông tin tốt vì điều đó sẽ dẫn đến tăng trưởng chậm hơn, ảnh hưởng đến nhu cầu và tạo cơ hội cho phía cung bắt kịp.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Powell vẫn tin rằng Mỹ có "đủ khả năng" để có thể chịu được chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.

"Có thể có một số khó khăn để ổn định lại giá cả, nhưng chúng tôi nghĩ rằng mình vẫn có thể duy trì một thị trường lao động mạnh mẽ", ông nói.

Ảnh hưởng của cuộc xung đột ở Ukraine và sụ đình trệ liên quan đến phong tỏa vì COVID-19 ở Trung Quốc vẫn là hai rủi ro đáng kể nhất nằm ngoài tầm kiểm soát của Fed, đè nặng lên tăng trưởng và đẩy lạm phát lên cao.

Ở thông tin khác, doanh số bán lẻ tại Mỹ vừa được công bố cho thấy mức tăng mạnh trong tháng Tư, đồng nghĩa với việc nhu cầu vẫn được duy trì mạnh mẽ bất chấp lạm phát cao, qua đó xoa dịu một số lo ngại rằng nền kinh tế đang đi vào suy thoái.

Quan điểm diều hâu hơn của Chủ tịch Fed đã khiến vàng giảm giá bất chấp việc bạc xanh suy yếu. Trong hai phiên gần nhất, chỉ số bạc xanh đã giảm khoảng 1,5% từ mức cao nhất trong hai thập kỉ.

Theo các chuyên gia, giá vàng sẽ tiếp tục gặp áp lực trong tuần khi các báo cáo kinh tế dự kiến sẽ tiếp tục mang đến những động thái bất ổn đối với kim loại quý và các nhà đầu tư sẽ tiếp tục tập trung vào các tuyên bố từ các nhà hoạch định chính sách của Fed, được cho là sẽ diều hâu hơn.

Quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hôm qua tiếp tục giảm 4,07 tấn vàng nắm giữ xuống còn 1.049,21 tấn.

thi truong vang sang 185 dao chieu giam tro lai

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 68,25 - 69,25 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 68,25 - 69,27 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội được niêm yết ở mức 68,15 - 69,00 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

Tại TP. HCM giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 68,25 - 69,10 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.400 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.115 23.395 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.095 23.395 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.090 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.150 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.150 23.360 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.110 23.467 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.116 23.402 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.115 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.170 23.410 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.050
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.050
68.750
Vàng SJC 5c
68.050
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.700
54.650
Vàng nữ trang 9999
53.550
54.250