Thị trường vàng sáng 19/5: Tiếp đà giảm

08:45 | 19/05/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp tục suy yếu và vật lộn để duy trì mức trên 1.800 USD/oz, trong bối cảnh quan điểm diều hâu của Fed đang hỗ trợ bạc xanh và lợi suất trái phiếu, qua đó gây áp lực lên kim loại quý này.

thi truong vang sang 195 tiep da giam Thị trường vàng sáng 18/5: Đảo chiều giảm trở lại
thi truong vang sang 195 tiep da giam Thị trường vàng sáng 17/5: Tiếp tục hồi phục

Tính đến 8h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 2 USD (-0,11%) so với mở cửa xuống 1.815 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.807,1 - 1.825,8 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2022 giảm 2 USD/oz (-0,11%), hiện giao dịch quanh mức 1.813,9 USD/oz.

thi truong vang sang 195 tiep da giam

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,2%, trong khi giá vàng tương lai giảm 0,6%.

Theo các chuyên gia, thị trường vàng tiếp tục vật lộn để duy trì mức trên 1.800 USD/oz. Một trong những lý do chủ yếu khiến vàng chịu áp lực bán ra đáng kể trong bốn tuần qua là do các nhà đầu tư tin rằng các ngân hàng trung ương có thể tạo ra một cú "hạ cánh mềm", đủ để làm giảm áp lực lạm phát nhưng không đủ để khiến nền kinh tế rơi vào suy thoái.

"Miễn là các thị trường tài chính tin tưởng một cách hợp lý rằng các ngân hàng trung ương có thể đạt được sự cân bằng có thể chấp nhận được giữa việc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát và ngăn hệ thống kinh tế và tài chính khỏi rơi vào suy thoái, thì giá vàng khó có thể tăng mạnh. Tuy nhiên, rủi ro là các ngân hàng trung ương có thể sẽ không thành công trong kế hoạch của họ và gây ra một cuộc khủng hoảng lớn...", nhà kinh tế trưởng của Degussa, Thorsten Polleit nhận định.

Vị này nói thêm rằng ngân hàng trung ương Mỹ đang đi trên một con đường nhiều "chông gai" bởi “rủi ro xảy ra sai sót là rất lớn, đặc biệt là với mức nợ toàn cầu kỷ lục hiện này”.

Ngay cả khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tránh đẩy nền kinh tế vào suy thoái, Polleit cho biết vẫn còn triển vọng đối với vàng một khi các nhà đầu tư nhận ra rằng lạm phát cao sẽ tiếp tục dai dẳng hơn dự kiến.

"Một kịch bản có thể xảy ra là các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất thêm một chút, nhưng không đến mức phá vỡ hệ thống để giảm lạm phát. Lãi suất thực, tức là lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát, rất có thể sẽ vẫn ở mức âm trong nhiều năm tới", Polleit nhận định.

Trên thực tế, quan điểm diều hâu của Fed đang hỗ trợ bạc xanh và lợi suất trái phiếu, qua đó gây áp lực lên giá vàng.

“Fed đang là nhân tố thúc đẩy sự mạnh lên của bạc xanh và qua đó gây sức ép lên giá vàng", Craig Erlam, nhà phân tích thị trường cấp cao tại OANDA nhận định và cho rằng Fed sẽ không từ bỏ quan điểm diều hâu của họ.

Đồng quan điểm, Ricardo Evangelista, nhà phân tích cấp cao tại ActivTrades, cho rằng vàng đang mất dần sức hấp dẫn khi Fed cam kết kiểm soát lạm phát thông qua các chính sách tiền tệ thắt chặt hơn và điều này đang tạo ra động lực đẩy lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm lên mức gần 3%.

Trên góc độ kỹ thuật, các chuyên gia phân tích cho rằng mức hỗ trợ chính của vàng đang ở 1.800 USD/oz, nếu mức này bị phá vỡ thì giá có thể giảm xuống mức thấp hơn ở gần 1.787 USD/oz.

Nhìn chung, giá vàng sẽ bị mắc kẹt trong phạm vi từ 1.807 đến 1.825 vào cuối năm.

thi truong vang sang 195 tiep da giam

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục chuỗi đi ngang.

Cụ thể, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 68,25 - 69,25 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 68,25 - 69,27 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội và TP. HCM được niêm yết ở mức 68,25 - 69,00 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850