Thiếu hàng hoá chất lượng: Thị trường không thể bền vững

18:48 | 06/03/2012

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam sụt giảm sâu và kéo dài không chỉ bởi tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới, cộng với những khó khăn kinh tế trong nước. Cácnhà phân tích cho rằng, nguyên nhân còn nằm ở nội tại thị trường, trong đó có quy định tiêu chí về chất lượng phát hành và niêm yết chứng khoán của các công ty chưa cao.

Nhận định này hoàn toàn có  cơ sở, bởi theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) chỉ trong năm 2011, đã có 3 công ty bị hủy niêm yết do liên tiếp vi phạm quy định về công bố thoâng tin. Bên cạnh đó, có 28 công ty bị đưa vào diện cảnh báo, 14 công ty trong diện bị kiểm soát, 3 công ty bị tạm ngừng giao dịch, 4 công ty bị cảnh cáo, có 575 công ty bị nhắc nhở bằng văn bản cũng do vi phạm quy định về công bố thông tin. Những con số trên cho thấy hành vi vi phạm này xem ra khá trầm trọng, và dường như đang thách thức  niềm tin của nhiều nhà đầu tư tham  gia thị trường. Bởi đến cuối năm 2011, số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở mới chỉ hơn 700 và 130 công ty đăng ký giao dịch trên UpCom.

Nhìn vào chất lượng hàng hóa trên thị trường, nhiều nhà đầu tư cũng không lắm mặn mà bởi ngay cả cơ quan quản lý  là Vụ Phát triển thị trường (thuộc UBCKNN) cũng tỏ ra bi quan khi cho rằng, số lượng chứng khoán nhiều nhưng chất lượng còn thấp. Đa số các công ty niêm yết, đăng ký giao dịch là những công ty vừa và nhỏ.  Trong hơn 700 công ty niêm yết, đăng ký giao dịch có tới 342 công ty (khoảng 50%) có vốn điều lệ dưới 100 tỷ đồng. Chưa kể hiệu quả hoạt động của các công ty  niêm yết chưa cao, năng lực quản  trị công ty và tính minh bạch còn nhiều bất cập. Nhất là giai đoạn 2010-2011 nhiều công ty niêm yết kinh doanh thua lỗ đã ảnh hưởng lớn đến sự hấp dẫn của cổ phiếu và niềm tin của nhà đầu tư. Điều này cũng ảnh hưởng đến cơ cấu nhà đầu tư với sự  thiếu vắng nhà đầu tư tổ chức (chỉ chiếm  4% số tài khoản giao dịch). Cơ cấu  đầu tư của nhóm này cũng chủ yếu tập trung vào các mã thuộc nhóm  ngân hàng, quỹ đầu tư và các cổ phiếu blue- chips có ảnh hưởng lớn đến thị trường...

Chính vì vậy, ông Lê Văn Châu - Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán cho rằng, trong tái cấu trúc TTCK,  trước hết cần xem xét lại công tác phát hành và niêm yết. Trong đó cần đặc biệt coi trọng nghiệp vụ phát hành, bởi đó là khâu quyết định quy mô thị trường, chất lượng "hàng hóa". Trên thực tế TTCK Việt Nam đã qua thời kỳ coi "tạo hàng" là nhiệm vụ trọng tâm. Các công ty đại chúng đã ý thức được  vai trò huy động vốn của TTCK, họ đang cố gắng để được niêm yết và được phát hành chứng khoán trên thị trường tập trung. Đã đến lúc cần nâng điều kiện niêm yết và điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng. Theo đó, để được phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phải có 3  năm liên tục gần nhất có lợi nhuận thay cho quy định 1 năm như hiện nay; bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận cũng phải đạt một “ngưỡng” nào đó, ví dụ 10% trên vốn điều lệ. Quan trọng hơn dự án phát hành phải trên cơ sở một dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế. "Khi năng lực tư vấn đầu tư chứng  khoán còn bị hạn chế, điều kiện phát hành và niêm yết càng khắt khe, chứng khoán trên thị trường càng có chất lượng, thị trường càng ổn định", ông Châu nhấn mạnh.

Ghi nhận những ý kiến đóng góp, đề xuất của thành viên thị trường,  Chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng cho biết,  đơn vị đã hoàn thiện và trình Chính  phủ nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán. Theo  đó, ngoài tiêu chí về vốn, các quy định niêm yết đã được bổ sung thêm các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp như mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và quy mô cổ đông. Cụ thể, doanh nghiệp muốn niêm yết trên SGDCK TP. Hồ Chí Minh phải hội đủ vốn điều lệ từ 120 tỷ đồng trở lên; phải có 2 năm liền trước năm niêm yết có lãi với tỷ lệ lợi nhuận sau thuế  trên vốn chủ sở hữu năm gần nhất tối thiểu là 5% và tối thiểu 20% cổ phiếu  có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 300 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ. Đối với SGDCK Hà Nội Công ty phải có vốn điều lệ tối thiểu từ 30 tỷ đồng trở lên; năm liền trước năm niêm yết phải có lãi với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tối thiểu  là 5%; cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 300 cổ đông nắm giữ… Tuy nhiên, đại diện UBCKNN cũng tỏ ra thận trọng khi cho rằng, việc nâng cao tiêu chuẩn niêm yết trên cơ sở nângquy mô mức vốn hóa gắn với hiệu quả doanh nghiệp nhằm tạo hàng hóa có chất lượng cho thị trường. Tuy  nhiên, cũng cần đảm bảo từng bước thu hẹp thị trường tự do để đưa công ty đại chúng vào quỹ đạo có quản lý, giám sát của Nhà nước...

Các nhà phân tích cũng cho rằng,  việc nâng cao tiêu chuẩn niêm yết là cần thiết trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, để TTCK phát triển bền vững thì đó mới chỉ là điều kiện cần.  Nâng cao tiêu chuẩn niêm yết phải gắn chặt với việc yêu cầu doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản trị, yêu cầu về công bố thông tin và xử phạt nghiêm minh nhằm giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư, công ty kinh doanh chứng khoán khi tham gia thị trường. Để làm được  điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa UBCKNN, các sở, trung tâm lưu ký và các thành viên thị trường.

Dương Công Chiến

 

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530