Thống đốc Nguyễn Thị Hồng dự và phát biểu tại Phiên họp Kinh tế toàn cầu và Hội nghị toàn thể lần thứ 92 của NHTTQT

13:08 | 27/06/2022

Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Hội nghị Toàn thể Thường niên lần thứ 92 của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (NHTTQT) và các sự kiện bên lề tại Basel, Thụy Sĩ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng đã có phát biểu tại Phiên họp Kinh tế toàn cầu và Hội nghị Toàn thể NHTTQT.

thong doc nguyen thi hong tham du va phat bieu tai phien hop kinh te toan cau va hoi nghi toan the lan thu 92 cua nhttqt
Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng tham dự và phát biểu tại Phiên họp

Phiên họp Kinh tế toàn cầu diễn ra vào ngày 25/6/2022 do ông Jerome Powell, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chủ trì, thảo luận về diễn biến kinh tế vĩ mô và tài chính toàn cầu đến thời điểm hiện tại và diễn biến cũng như triển vọng đối với thị trường việc làm trên thế giới. Phát biểu tại Phiên họp, Thống đốc cho biết cuối năm 2021 và những tháng đầu năm 2022, thị trường việc làm tại Việt Nam có những diễn biến tích cực. Quý 1/2022, 50,04 triệu người có việc làm, tăng 1,96% so với Quý 4/2021 và 0,26% so với Quý 1/2021. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,1%. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 1,1122 triệu người, giảm 489.500 người so với Quý 4/2021, tỷ lệ thất nghiệp đạt 2,46%. So với Quý 4/2019, thời điểm trước khi nổ ra đại dịch COVID-19, tỷ lệ thất nghiệp Quý 1/2022 không có sự chênh lệch lớn (2,46% so với 2,15%), chứng tỏ khả năng chống đỡ tốt của thị trường việc làm trong nước trước các cú sốc bất lợi.

Điều này có được là nhờ Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các Bộ, ngành của Việt Nam luôn theo dõi sát các diễn biến trong nước và quốc tế, thận trọng trước những diễn biến bất lợi, dự báo được những xu hướng lớn, bao gồm lạm phát toàn cầu và áp lực lạm phát trong nước gia tăng, từ đó đề ra các giải pháp chính sách toàn diện và phù hợp ở cả phía cung và phía cầu. Các giải pháp này bao gồm một loạt các gói chính sách hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp và ổn định mặt bằng giá; như hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động đang thuê, ở trọ, làm việc tại các khu công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, trả lương cho người lao động bị mất việc, miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, giảm tiền thuê đất, gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt và tiền thuê đất, giảm thuế bảo vệ môi trường đối với các sản phẩm xăng, dầu…

Đóng góp vào nỗ lực chung của Chính phủ, Thống đốc cho biết NHNN đã, đang và sẽ tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị trường trong và ngoài nước. Trong năm 2021 và các tháng đầu năm 2022, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong điều kiện lãi suất thế giới tăng nhanh, tạo điều kiện để TCTD tiếp cận nguồn vốn NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh. Các giải pháp điều hành của NHNN đều được truyền thông kịp thời, minh bạch tới công chúng, tạo dựng lòng tin và góp phần ổn định thị trường.

Nhờ các giải pháp quyết liệt, toàn diện nói trên, kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả khả quan. Tăng trưởng kinh tế được duy trì, Quý 1/2022 đạt 5,03% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng 4,72% của Quý 1/2021 và 3,66% của Quý 1/2020; lạm phát được kiểm soát trong mức mục tiêu. Đời sống của người lao động được đảm bảo, vòng xoáy giá - lương chưa có dấu hiệu xảy ra. Cầu trong nước được duy trì, thể hiện ở việc tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2022 tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù đạt được những kết quả tích cực như trên, Thống đốc cho biết Chính phủ và NHNN xác định không chủ quan trước diễn biến của lạm phát và sẽ tiếp tục theo dõi sát sao các diễn biến trong nước và quốc tế để điều chỉnh các giải pháp hiện có và đề ra các giải pháp mới phù hợp với tình hình.

* Tiếp sau Phiên họp Kinh tế Toàn cầu, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng đã tham dự Hội nghị Toàn thể Thường niên lần thứ 92 của NHTTQT được tổ chức vào ngày 26/6/2022. Hội nghị do ông François Villeroy de Galhau, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHTTQT, Thống đốc NHTW Pháp chủ trì. Đây là lần đầu tiên Thống đốc NHNN tham dự trực tiếp Hội nghị Toàn thể Thường niên NHTTQT sau khi NHNN chính thức trở thành hội viên của Ngân hàng.

Hội nghị tổng kết các hoạt động của NHTTQT trong năm tài khóa 2021 (từ 1/4/2021 – 31/3/2022), thảo luận và thông qua Báo cáo tài chính của Ngân hàng năm tài khóa 2021, kế hoạch phân bổ lợi nhuận, lựa chọn cơ quan kiểm toán độc lập cho năm tài khóa 2022, quyết định thù lao và miễn trách nhiệm cá nhân của các thành viên Hội đồng Quản trị trong năm tài khóa trước. Đây là lần đầu tiên Thống đốc NHNN tham dự trực tiếp Hội nghị Toàn thể Thường niên NHTTQT với tư cách hội viên/cổ đông của Ngân hàng.

Năm tài khóa 2021, NHTTQT đã đạt được những bước tiến trong quá trình thực hiện Chiến lược Đổi mới sáng tạo đến năm 2025 được thông qua tại Hội nghị Toàn thể Thường niên lần thứ 89 năm 2019. Trung tâm Đổi mới sáng tạo NHTTQT đã mở thêm 02 trung tâm tại London và trung tâm khu vực Bắc Âu đặt tại Na Uy, ký kết thỏa thuận hợp tác với Ngân hàng Dự trữ New York. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng triển khai một loạt dự án phát triển đồng CBDC đa phương (m-CBDC) nhằm thúc đẩy liên thông giữa các hệ thống thanh toán, qua đó tạo điều kiện thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới. Ngoài ra, Ngân hàng đã tăng cường ứng dụng các thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 như công nghệ dữ liệu lớn trong hoạt động phân tích, từ đó đẩy nhanh tốc độ phân tích, qua đó cải thiện hiệu quả công tác quản trị rủi ro tài chính.

Trong thời gian tới, Trung tâm Đổi mới sáng tạo NHTTQT đã xác định 6 chủ đề trong trọng tâm chiến lược có tầm quan trọng đối với Trung tâm và cộng đồng NHTW, gồm: tiền kỹ thuật số NHTW (CBDC), tài chính xanh, ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý và thanh tra giám sát hệ thống tài chính (regtech và suptech), cơ sở hạ tầng thị trường tài chính thế hệ tiếp theo, tài chính mở và an ninh mạng.

Trong vai trò diễn đàn hợp tác, đối thoại giữa NHTW và cơ quan giám sát tài chính các nước, NHTTQT tổ chức nhiều cuộc họp cấp cao cấp Thống đốc NHTW và lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính để tạo cơ hội đối thoại và chia sẻ kiến thức tại trụ sở chính ở Basel hoặc Văn phòng đại diện của Ngân hàng tại châu Á – Thái Bình Dương và châu Mỹ.

Nguồn: SBV

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650