Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc: Các ngân hàng Việt cần có khát vọng vươn lên

09:07 | 03/01/2020

Các NHTM cũng phải tự tính toán, đẩy mạnh giải pháp nâng cao năng lực tài chính, năng lực điều hành và hiệu quả hoạt động, đảm bảo an toàn từng tổ chức và hệ thống...

thu tuong chinh phu nguyen xuan phuc cac ngan hang viet can co khat vong vuon len Ngành Ngân hàng phải tiếp tục đóng góp cho sự thịnh vượng, hùng cường của đất nước
thu tuong chinh phu nguyen xuan phuc cac ngan hang viet can co khat vong vuon len Niềm tin vào ngân hàng Việt tăng cao
thu tuong chinh phu nguyen xuan phuc cac ngan hang viet can co khat vong vuon len
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2020 (sáng ngày 2/1/2020)

Tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá năm 2019 tốt hơn, toàn diện hơn, có những mức vượt bậc hơn so với năm 2018. Các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về Việt Nam. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận xét mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời vẫn đang tỏa sáng lên Việt Nam. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá Việt Nam có sự năng động, tính đúng đắn trong điều hành chính sách.

Trong những thành quả đạt được có sự đóng góp quan trọng của NHNN. Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô là điểm sáng của NHNN suốt từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Trong đó nổi bật là vai trò kiểm soát lạm phát thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 4,74% của thế giới cho thấy, CSTT linh hoạt, điều hành bản lĩnh, đồng bộ của NHNN.

Song song với đó, tín dụng tăng gần 14% thấp hơn rất nhiều so với những năm trước, nhưng GDP lại đạt mức ấn tượng 7,02%. Điều đó cho thấy, dòng vốn ngân hàng đã đi đúng hướng, chất lượng tín dụng tăng. Với quy mô GDP nền kinh tế lên tới 270 tỷ USD, trong đó tín dụng đóng góp trên 8,2 triệu tỷ đồng là con số không hề nhỏ. Nhưng điều quan trọng hơn, tôi đánh giá cao là sự phối hợp của NHNN với các bộ, ngành trong điều hành vĩ mô, chính sách tài khóa để vừa đảm bảo lạm phát ở mức thấp, duy trì tăng trưởng kinh tế cao với mặt bằng lãi suất thấp.

Đặc biệt, NHNN đã linh hoạt, khéo léo trong điều hành khi mua vào để tăng dự trữ ngoại hối đạt mức kỷ lục gần 80 tỷ USD, gấp 2,5 lần từ đầu nhiệm kỳ, nhưng không ảnh hưởng lớn đến lạm phát. Trong khi đó một số nước như Trung Quốc cùng kỳ dự trữ ngoại hối giảm 5%, Malaysia giảm, còn một số nước chỉ tăng nhẹ. Không những vậy, NHNN dùng ngoại hối này gửi lại các TCTD quốc tế, trong nước thu lãi gần 20.000 tỷ đồng, có thể nói là rất thành công. 

Hoạt động kinh doanh ngân hàng cải thiện đáng kể. Vốn điều lệ của các ngân hàng tăng dần qua các năm, tỷ lệ an toàn vốn – CAR trên 12% đảm bảo an toàn trong hoạt động. Trong thời gian qua, nhiều ngân hàng tái cơ cấu thành công, xử lý nợ xấu tốt. Tôi đánh giá cao nhiều NHTM xung phong hỗ trợ Chính phủ thực hiện dự án về điện lực, giao thông, nông nghiệp... Bên cạnh đó, NHNN phối hợp với Bộ Công an, thực hiện đẩy lùi tín dụng đen nhất là tội phạm công nghệ cao; trong đó hai ngân hàng đóng góp tích cực nhất là Agribank và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam. 

Hệ thống ngân hàng nắm bắt xu hướng và cơ hội từ cuộc CMCN 4.0 khi tiên phong ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ. Xu hướng ngân hàng số và sử dụng công nghệ bắt đầu cung ứng các sản phẩm tiện ích trên nền tảng công nghệ... 

Có thể nói, chưa bao giờ Việt Nam có một cơ đồ như hôm nay, nhưng đối với hệ thống chính sách tiền tệ còn nhiều khó khăn, thách thức. Năm 2020 có nhiều vấn đề đặt ra để suy nghĩ. Rủi ro gia tăng từ kinh tế tài chính toàn cầu...

Bên cạnh thành quả nhiều mặt, ngành Ngân hàng vẫn còn một số hạn chế, bất cập, thách thức đặc biệt là cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu. Tiềm lực tài chính ngân hàng còn hạn chế, chất lượng sản phẩm dịch vụ chưa cao, dịch vụ còn nghèo nàn, trình độ quản trị và công nghệ còn thấp so với thế giới. Xử lý các TCTD yếu kém còn nhiều trở ngại, khó khăn. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn còn nhiều phức tạp từ lộ thông tin cá nhân, tấn công mạng, mất tiền tài khoản làm ảnh hưởng đến uy tín các ngân hàng, kể cả vấn đề tiền ảo...

Để thực hiện các nhiệm vụ năm 2020, ngành Ngân hàng phối hợp chặt chẽ với các địa phương thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ vừa ký ngày 1/1/2020. Ổn định vĩ mô vẫn là trung tâm điều hành của Chính phủ, vì thế, NHNN phải điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ, hiệu quả với chính sách tài khóa và chính sách khác để ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng.

Đồng thời, theo dõi sát tình hình để kịp thời tham mưu cho Bộ Chính trị, cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ các biến động vĩ mô tiền tệ, tín dụng quốc tế và trong nước. Chẳng hạn, mức tăng trưởng tín dụng năm 2020 là bao nhiêu thì NHNN phải tính toán, đề xuất với Chính phủ trên tinh thần đây là kênh vốn quan trọng để góp phần tăng trưởng. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và yêu cầu quản lý là yêu cầu đối với chính sách tiền tệ mà Nghị quyết 01 của Chính phủ nêu ra. Cùng với đó là tăng dự trữ ngoại hối, đảm bảo chất lượng tín dụng, ngăn chặn tín dụng đen…

Trong năm tới, NHNN phải đồng thời thực hiện hai mục tiêu kép. Một là tạo môi trường thuận lợi cho các TCTD phát triển an toàn, lành mạnh, hiệu quả, cạnh tranh quốc tế; Mục tiêu thứ hai là đa dạng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng yêu cầu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, với phương châm dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tín dụng ngân hàng trong thời gian ngắn nhất, chi phí thấp nhất.

Bên cạnh đó, công tác dự báo, ứng phó, đối sách phải đặc biệt chú ý; đẩy mạnh phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan chức năng, nhất là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương để thường xuyên trao đổi, có quyết sách hàng tháng trình Chính phủ. 

 Tôi đề nghị NHNN thực hiện tốt Đề án 1058 và Nghị quyết 42 của Quốc hội, tập trung xử lý các TCTD yếu kém, hạn chế nợ xấu phát sinh. Các NHTM cũng phải tự tính toán, đẩy mạnh giải pháp nâng cao năng lực tài chính, năng lực điều hành và hiệu quả hoạt động, đảm bảo an toàn từng tổ chức và hệ thống.

Tôi yêu cầu NHNN chỉ đạo các NHTM ứng dụng công nghệ hiện đại, thành tựu của cuộc CMCN lần thứ tư vào ngân hàng, tạo điều kiện chuyển đổi mô hình Nhà nước điện tử và mô hình ngân hàng số. Nhiều NHTM đã đăng ký trở thành ngân hàng số là điều đáng mừng. Đặc biệt là các ngân hàng cần có khát vọng vươn lên lọt vào top của khu vực và thế giới. Thành công lớn của NHNN trong thời gian qua là thành công căn bản, toàn diện, nên cần phát huy thành quả, để thời gian tới, làm tốt hơn nhiệm vụ nặng nề được giao…

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.075 23..287 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.830
56.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.830
56.330
Vàng SJC 5c
55.830
56.350
Vàng nhẫn 9999
53.430
53.930
Vàng nữ trang 9999
52.930
53.630