Thúc đẩy bình đẳng giới trong bảo hiểm và an sinh xã hội

06:10 | 30/07/2021

Những nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới thông qua các chính sách an sinh xã hội cần được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Đồng thời, cần thực hiện chính sách an sinh xã hội từ nhạy cảm giới đến đáp ứng giới, thúc đẩy bao phủ bảo hiểm xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới trong thực tế.

thuc day binh dang gioi trong bao hiem va an sinh xa hoi Hợp tác thúc đẩy bình đẳng giới và quyền năng phụ nữ
thuc day binh dang gioi trong bao hiem va an sinh xa hoi Công đoàn - một động lực trong thúc đẩy bình đẳng giới
thuc day binh dang gioi trong bao hiem va an sinh xa hoi Phong trào thi đua “hai giỏi” và bình đẳng giới ngành Ngân hàng: Đạt kết quả cao ở hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu

Phát triển bảo hiểm xã hội sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong hệ thống an sinh xã hội, hệ thống bảo hiểm xã hội giữ vai trò trụ cột, quan trọng nhất. Điều đó được nêu trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã tính đến các đặc thù về giới.

thuc day binh dang gioi trong bao hiem va an sinh xa hoi
Giảm thiểu bất bình đẳng giới gián tiếp tăng phúc lợi cho trẻ em

Bà Trần Thị Hương, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết, những vấn đề cần quan tâm triển khai sớm hiện nay là giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ là những người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn để được hưởng lương hưu; Tăng thời gian nghỉ chế độ thai sản từ 4 tháng lên 6 tháng và quy định chế độ nghỉ đối với nam giới khi vợ sinh con; Hay chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Nhà nước hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người tham gia…

Tuy nhiên, kết quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội trên thực tế có diện bao phủ còn thấp. Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến ngày 31/12/2020, mới chỉ có 31,12% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (giảm 1,12% so với cùng kỳ 2019) và 2,31% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Như vậy, còn 66,5% lực lượng lao động trong độ tuổi hiện vẫn chưa tham gia bảo hiểm xã hội (tương đương gần 32 triệu người), chủ yếu là nông dân và lao động phi chính thức, có thu nhập thấp. Trong khi đó, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm sau cao hơn năm trước và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Đáng chú ý là diện bao phủ của chế độ thai sản thấp, phần lớn chị em làm nông nghiệp, làm nghề tự do… đứng ngoài chính sách nhân văn này. Thiếu chính sách bảo vệ thai sản, không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập, thời gian làm việc của phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ, trẻ em, sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực đất nước, cũng khiến mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội là thách thức rất lớn.

Thực hiện chức năng đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trong thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã đề xuất nhiều chính sách, chương trình, đề án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, góp phần thực hiện an sinh xã hội, thể chế hóa quy định pháp luật về bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ và tổ chức hội. Nhiều chính sách đã được các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lao động nữ, chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số. Bên cạnh đó là chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng, bà Trần Thị Hương nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Valentina Barcucci - Quyền Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam chia sẻ, mục tiêu bình đẳng giới và an sinh xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới thông qua các chính sách an sinh xã hội cần được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Đồng thời, cần thực hiện chính sách an sinh xã hội từ nhạy cảm giới đến đáp ứng giới, thúc đẩy bao phủ bảo hiểm xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới trong thực tế.

Cả ILO và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đều tập trung làm rõ sự cần thiết phải tăng cường tính đáp ứng giới của hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam để giảm thiểu những bất bình đẳng giới mà phụ nữ phải trải qua trong suốt cuộc đời của họ, cả tại nơi làm việc và gia đình, đưa ra các khuyến nghị quan trọng về cách thúc đẩy bình đẳng giới trong khuôn khổ việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Bà Valentina Barcucci nhấn mạnh, việc áp dụng phúc lợi nhiều tầng cho trẻ em là một trong những biện pháp về chính sách có tiềm năng tác động lớn hơn. Cụ thể, quyền lợi này gồm hai tầng. Tầng thứ nhất sẽ cung cấp chế độ cho con cái của các bậc cha mẹ không tham gia bảo hiểm xã hội tại Việt Nam và sẽ do ngân sách nhà nước đảm bảo. Trong khi đó, tầng thứ hai sẽ hướng đến các trẻ em có cha mẹ tham gia bảo hiểm xã hội, với chế độ hưởng cao hơn và chi trả thông qua sự đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, như tất cả các quyền lợi bảo hiểm xã hội khác.

Ông André Gama, quản lý Chương trình An sinh xã hội của ILO Việt Nam cho rằng, việc áp dụng chế độ phúc lợi nhiều tầng cho trẻ em như vậy có thể được thực hiện với chi phí tương đối hợp lý, đồng thời giúp hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đạt được nhiều mục tiêu chính sách. Bởi vì, chế độ phúc lợi nhiều tầng cho trẻ em có thể vừa giúp mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm xã hội tại Việt Nam, đồng thời hỗ trợ tài chính cho mọi trẻ em trên cả nước. Chế độ này cũng có thể có tác động tái phân phối mạnh mẽ, hỗ trợ nhiều hơn cho các gia đình có thu nhập thấp hơn và có khả năng giúp xử lý được vấn đề rút bảo hiểm xã hội một lần.

Trong thực tế cuộc sống phụ nữ gặp nhiều thách thức hơn so với nam giới. Chính vì vậy cần phải điều chỉnh thiết kế hệ thống này theo hướng nhạy cảm giới và đáp ứng giới hơn. ILO cam kết tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để hướng tới mục tiêu phát triển tốt hơn cho Việt Nam, thúc đẩy quyền lợi cho người Việt Nam và phụ nữ Việt Nam.

Đây là những đóng góp quý báu, có tính chất gợi mở để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, có ý kiến trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án; góp ý và phản biện xã hội đối với các dự thảo chính sách, luật pháp về an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”.

Hữu An

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.650 22.870 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.680 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.670 22.885 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.662 22.872 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.150
56.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.150
56.800
Vàng SJC 5c
56.150
56.820
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800