Thúc đẩy phát triển bền vững ngành ngao

11:04 | 04/12/2020

Những năm gần đây, các mặt hàng nhuyễn thể, trong đó có ngao, hàu không chỉ được ưa chuộng, tiêu dùng trong  nước, mà còn thuộc nhóm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km chạy dọc theo hướng Bắc – Nam với 112 cửa sông, trên 3.000 đảo lớn nhỏ, có diện tích mặt nước eo vịnh, đầm phá ven biển lớn; trên 1 triệu km2 diện tích vùng đặc quyền kinh tế biển, cùng các hệ sinh thái rất đa dạng phù hợp cho việc nuôi trồng nhuyễn thể.

Tính đến nay, diện tích nuôi nhuyễn thể trên cả nước đạt khoảng trên 52.930 ha, trong đó ngao là 29.030 ha. Hiện tại có 2 loài ngao đang được nuôi phổ biến là ngao đá (ngao trắng) và ngao dầu, được xem là đối tượng nuôi chủ lực ở hầu hết các tỉnh ven biển Bắc bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

thuc day phat trien ben vung nganh ngao
Ảnh minh họa

Những năm gần đây, các mặt hàng nhuyễn thể, trong đó có ngao, hàu không chỉ được ưa chuộng, tiêu dùng trong nước, mà còn thuộc nhóm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong kim ngạch xuất khẩu nhuyễn thể 2 mảnh vỏ ghi nhận sự đóng góp đáng kể của các tỉnh ven biển phía Bắc.

Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng nhuyễn thể mà chủ yếu là ngao sang nhiều thị trường trên thế giới, với kim ngạch năm 2019 đạt 93,7 triệu USD. Trong đó, EU là thị trường nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ lớn nhất, chiếm 64,2% tổng giá trị. EU đã công nhận 12 vùng nuôi nhuyễn thể an toàn trên cả nước, với tiềm năng thu hoạch 200.000 - 220.000 tấn/năm. Mỹ là thị trường lớn thứ 2, chiếm gần 12%; tiếp đến là Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, ASEAN.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, 6 tháng đầu năm 2020, Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang 40 thị trường (năm 2019, là 48 thị trường nhập khẩu từ Việt Nam). Tổng giá trị xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ đạt 37,2 triệu USD, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2019. Kim ngạch xuất khẩu nhuyễn thể chiếm 8,1% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản.

Việc hình thành các chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản nói chung và nhuyễn thể 2 mảnh vỏ nói riêng tại các thành phố lớn tạo điều kiện kích thích tiêu dùng nội địa. Ở chiều ngược lại, nhu cầu tiêu dùng nội địa tăng không chỉ tạo nhiều cơ hội mới, mà còn là thách thức mới để các doanh nghiệp hợp tác, cùng nhau đưa ra những biện pháp cụ thể để đồng bộ hóa quá trình phát triển sản xuất và kết nối thị trường tiêu thụ, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Lê Minh Hoan.

Báo cáo của Tổng cục Thủy sản cũng cho hay, cả nước hiện có 380 cơ sở sản xuất giống, tập trung ở Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bến Tre, Tiền Giang. Tuy nhiên, do dịch bệnh Covid-19, môi trường ô nhiễm, giá bán bấp bênh, thiếu ổn định, điều kiện thời tiết khắc nghiệt... khiến nhiều trại sản xuất giống đã chuyển sang sản xuất giống cá biển.

Trong khi đó hàng năm, ước tính nhu cầu ngao giống cả nước là 70 tỷ con với nguồn giống gốc từ sinh sản nhân tạo ước đạt 15 - 20 tỷ con/năm (đáp ứng được khoảng hơn 1/3 nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm). Điều này cho thấy nguồn giống cho nuôi thương phẩm vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, thiếu chủ động về chất lượng và số lượng. Mặt khác, nguồn giống này đang thiếu sự quản lý, khai thác hợp lý nên có nguy cơ cạn kiệt. Thêm nữa, việc nuôi ngao tại các địa phương ven biển hiện nay còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, trình độ kỹ thuật nuôi trồng của người dân chưa đạt với yêu cầu dẫn đến ô nhiễm môi trường, phát triển thiếu bền vững, đại diện Vụ Nuôi trồng thủy sản (NN&PTNT) chia sẻ.

Để phát triển bền vững ngành nông nghiệp nói chung, ngành hàng ngao, hàu nói riêng, tăng tiềm năng phát triển ra thị trường thế giới, chúng ta phải có sự kết tinh của giá trị công nghiệp chế biến. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu thêm những sản phẩm dược phẩm, mỹ phẩm từ ngao, hàu để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, Thứ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh.

Cơ cấu lại ngành nông nghiệp chính là việc đưa tất cả các ngành hàng nông sản vào một chuỗi liên kết. Chuỗi liên kết đó sẽ tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, và sự liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp vì thế cũng sẽ bền vững hơn, giảm dần xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế. Đồng thời, phải tìm giải pháp cắt giảm chi phí sản xuất; đưa ứng dụng, tiến bộ khoa học vào sản xuất; gắn với thị trường tiêu thụ và làm tốt công tác quảng bá sản phẩm. Thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ xây dựng một chiến lược phát triển ngành hàng ngao, hàu còn rất nhiều tiềm năng này.

Thế Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750