Thúc đẩy phát triển thị trường vốn rất cấp thiết

13:00 | 27/05/2019

Nhu cầu vốn trung, dài hạn của DN để mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh rất lớn, nhưng thị trường vốn chưa phát triển đủ cả về quy mô và chất lượng để có thể đáp ứng, nên nhu cầu này vẫn đang phải dựa vào ngân hàng. 

Phát triển thị trường vốn: “Chia lửa” cùng nguồn vốn tín dụng
Thị trường vốn: Các ngân hàng đang phải chịu áp lực lớn

Thực trạng mất cân đối vốn trung, dài hạn đã và đang tạo sức ép và rủi ro rất lớn cho hệ thống TCTD. Vậy làm thế nào để tạo thế cân bằng cho kênh vốn này. Phóng viên đã có cuộc trao đổi với các chuyên gia xung quanh vấn đề này.

Hệ thống ngân hàng đang phải “gồng mình” lo vốn cho nền kinh tế

Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc HSBC Việt Nam cho biết, hiện tại hệ thống ngân hàng đang phải gồng gánh rất nhiều trong vai trò nhà cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế từ vốn ngắn hạn, trung, dài hạn. Nhiều khoản ngân hàng tài trợ cho vay lên trên 10 năm. Trong khi nguồn vốn ngân hàng hiện nay đa phần là vốn ngắn hạn. Do đó thị trường vốn chưa phát triển nên đang tạo gánh nặng cho ngân hàng nhiều. Đây cũng là lý do căn bản khiến cho tỷ lệ nợ xấu tăng cao thời gian trước đây.

Nhìn lại sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong vòng 10 năm gần đây, dù có chuyển biến nhưng chưa đạt được như kỳ vọng của thị trường. Do sự phát triển thị trường vốn hạn chế nên vẫn chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng. Trước những rủi ro hiện hữu từ sự mất cân đối kênh dẫn vốn, việc thúc đẩy phát triển thị trường vốn rất cấp thiết, giúp cho đa dạng kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.

Nhưng để làm được điều này cần có lộ trình, mục tiêu rõ ràng cụ thể, chứ chỉ riêng NHNN không thể tự làm toàn bộ vai trò này được mà cần phối hợp liên bộ liên ngành, nhất là Bộ Tài chính để cùng thực hiện kế hoạch dài hạn phát triển thị trường trái phiếu. Đây là tiền đề căn bản để phát triển lành mạnh hóa thị trường vốn nói chung, ngân hàng nói riêng trong tương lai.

Đâu là lý do khiến thị trường vốn chưa phát triển, thưa ông?

Tôi nghĩ là khung khổ pháp lý còn hạn chế, các sản phẩm trên thị trường chưa có nhiều. Chẳng hạn, các NĐT nước ngoài tỏ ra lo ngại khi đầu tư trái phiếu dài hạn bởi họ không có công cụ để phòng tránh rủi ro. Vì khi mua trái phiếu, NĐTNN mua bằng tiền đồng. Do vậy, việc không có công cụ phòng tránh rủi ro về tỷ giá sẽ khiến NĐTNN hạn chế tham gia vào thị trường trái phiếu.

Vấn đề nữa của Việt Nam là hiện chưa có thị trường thứ cấp để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu DN (TPDN). Thị trường TPDN tuy cũng đã có bước khá nhanh trong vòng vài năm trở lại đây đặc biệt cho các DN lĩnh vực BĐS nhưng những đối tượng DN có thể tham gia thị trường phát hành trái phiếu không có nhiều. Vì khi phát hành trái phiếu, DN phải tuân theo nhiều điều kiện chặt chẽ và chuẩn mực thị trường.

Vậy theo ông, cần có giải pháp gì để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN vốn đang được kỳ vọng giảm bớt áp lực cấp vốn cho ngân hàng?

Điều quan trọng nhất để thị trường TPDN phát triển là phải đa dạng hóa NĐT, cũng như nhà phát hành; đa dạng về công cụ phòng tránh rủi ro. Nếu muốn phát triển thị trường TPDN minh bạch, theo tôi, nên thành lập công ty xếp hạng tín nhiệm cho các DN. Hiện tại các DN muốn phát hành trái phiếu ra quốc tế đa phần phải qua các công ty xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody, S&P hoặc Fitch. Nhưng chi phí để thuê các tổ chức này khá lớn. Đó cũng là rào cản DN quy mô nhỏ hơn khi muốn phát hành trái phiếu.

Vì vậy, việc thành lập công ty xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam là cần thiết. Tuy nhiên, hoạt động của các công ty này như thế nào đảm bảo hiệu quả cũng cần phải suy nghĩ kỹ. Như tôi được biết, hiện nay một vài DN xếp hạng tín nhiệm được thành lập tại Việt Nam, tuy nhiên chưa có đánh giá nào về mức độ tin cậy của những đơn vị này nên các DN cũng chưa biết đến họ. Kinh nghiệm ở các nước, thời gian đầu, đa phần họ liên doanh với các công ty nước ngoài. Ở Việt Nam cũng cân nhắc nên đi theo hướng này.

Ngoài ra, cần có cơ chế khuyến khích quỹ hưu trí sớm ra đời, đồng thời tạo thuận lợi cho NĐT tham gia giao dịch trái phiếu…

Ông có đề xuất gì để khuyến khích quỹ hưu trí sớm đi vào vận hành?

Để quỹ hưu trí phát triển ở các nước đều có chính sách khuyến khích. Đa phần các nước trên thế giới nhất là nước có tỷ lệ dân số già cao, đều có chính sách tạo thuận lợi ban đầu để khuyến khích mọi người tham gia vào quỹ. Hình thức khuyến khích đơn giản nhất là chính sách thuế. Có thể chính sách thuế chưa phải là mức tối ưu nhất từ phía Chính phủ nhưng nó cũng tạo được động lực nhất định để cho quỹ này phát triển. Khi mà thị trường ở quy mô nhất định nào đó có thể chúng ta điều chỉnh lại chính sách theo hướng phát triển bền vững hơn.

Vấn đề nữa là độ nhận thức người dân về tiết kiệm hưu trí cũng chưa cao. Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ già hoá nhanh nhất thế giới. Đến năm 2020 số người dân Việt Nam trên 65 tuổi có thể cao hơn cả ở Mỹ. Như vậy Việt Nam không còn thị trường dân số trẻ nữa nên cần chuẩn bị lưới an toàn về mặt xã hội hỗ trợ người đến tuổi về hưu có thể sống lành mạnh đầy đủ về mặt tài chính có ý nghĩa rất quan trọng.

TS. Cấn Văn Lực - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cũng cho rằng, chính sách tiền tệ đang phải gánh quá nặng so với chính sách tài khoá. Có nhiều việc về cơ bản là nhiệm vụ của chính sách tài khoá như hỗ trợ lãi suất, chương trình hỗ trợ tín dụng... liên quan đến ngân sách nhưng hiện nay chính sách tiền tệ vẫn đang phải gánh. Đặc biệt, hiện nay cho vay vốn trung và dài hạn chiếm khoảng 50-60% đang đè nặng lên hệ thống ngân hàng, gây nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Vì vậy, về dài hạn, phải thay đổi theo hướng nâng cao vai trò của thị trường vốn.

Một trong những giải pháp quan trọng giảm áp lực cấp vốn trung, dài hạn cho hệ thống ngân hàng là thúc đẩy phát triển thị trường TPDN. Chất xúc tác cho thị trường này, ngoài đa dạng hóa NĐT TPDN, nhất là các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí… cần chú trọng phát triển hạ tầng tài chính; trong đó, đẩy nhanh tiến trình xây dựng cổng thông tin TPDN, áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, hiện đại hóa hệ thống thanh toán bù trừ; đảm bảo các giải pháp tăng thanh khoản cho thị trường. Nên xem xét cho phép thành lập cơ quan xếp hạng tín nhiệm - cân nhắc có một số cơ quan xếp hạng tín nhiệm đảm bảo tính cạnh tranh, chống độc quyền.

Ngoài ra, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế: Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm, quy định phát hành trái phiếu….; chú trọng tính đồng bộ, nhất quán của các văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy sự phát triển thị trường vốn. Phát triển, đa dạng hóa sản phẩm-dịch vụ chứng khoán, tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách nhất là giữa chính sách tài chính và chính sách tài khoá nhằm đạt hiệu quả trong chính sách lãi suất, vốn trung dài hạn để hạn chế tình trạng “chèn lấn tín dụng”.

Nguyễn Vũ thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950