Tiền đồng sẽ tiếp tục ổn định

09:15 | 05/12/2014

Ngày 4/12, tại Hội thảo cập nhật kinh tế thế giới do Ngân hàng ANZ tổ chức, các chuyên gia tài chính quốc tế nhìn nhận, Việt Nam sẽ dần nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng trên cơ sở thận trọng.

Đã tạo niềm tin vào tiền đồng

Một số quan điểm cho rằng, nếu xu hướng lạm phát tiếp tục giảm sẽ tạo dư địa cắt giảm lãi suất và vẫn duy trì lãi suất thực dương. Ông Glenn Maguire, Chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của NH ANZ cho rằng, lạm phát thấp tạo dư địa để NHNN Việt Nam tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ và thời gian qua đã liên tục giảm trần lãi suất tiền gửi.

Tuy nhiên, theo nhận định của ông, việc tiếp tục cắt giảm lãi suất sẽ ít có tác dụng đối với tăng trưởng tín dụng. Nhưng do thanh khoản dư thừa giữ cho lãi suất tiền gửi thấp, sẽ có điều kiện tốt hơn cho các DN trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay.

Ngoài ra, việc kiểm soát tỷ giá của Việt Nam thời gian qua đã tạo được sự ổn định cho thị trường ngoại hối. Thực tế, NHNN Việt Nam đã điều chỉnh tỷ giá trong biên độ kiểm soát không quá 2% trong năm nay và ANZ tin rằng, điều này sẽ được duy trì trong năm sau, nhưng biên độ điều chỉnh có thể cao hơn, tùy thuộc vào lạm phát của Việt Nam so với các nước.


HSBC dự báo tỷ giá VND/USD sẽ tiếp tục ổn định trong năm 2015

Cũng đánh giá về vấn đề này, bà Trinh Nguyễn, nhà kinh tế học thuộc khối nghiên cứu kinh tế của NH HSBC (HSBC Global Research) cho rằng, về xu hướng VND luôn tăng giá, nhưng NHNN cũng có những biện pháp can thiệp vào thị trường để không xảy ra những biến động đột ngột. Kể cả khi NHNN có tăng thêm 1% biên độ tỷ giá thì đồng Việt Nam vẫn ổn định so với các đồng tiền khác trong khu vực.

Điều này rất quan trọng, vì hiện tại Việt Nam mới tạo được niềm tin của người dân vào VND nên còn cả một chặng đường dài để có thể củng cố được niềm tin của người dân tin tưởng hoàn toàn vào tiền đồng và cảm thấy hệ thống tài chính vận hành an toàn.

Vì vậy, việc kiểm soát tỷ giá hiện nay của NHNN tạo tâm lý an toàn cho người dân, đồng thời tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. HSBC nhận định, trừ những thời điểm căng thẳng theo chu kỳ, nhiều khả năng VND sẽ ổn định nhờ các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam và tài khoản thương mại đang thặng dư 2 tỷ USD tính từ đầu năm đến nay.

Nâng chất tín dụng, củng cố niềm tin

Bên cạnh đó, việc giải quyết nợ xấu là một ví dụ khác về các kế hoạch tái cấu trúc mà chính Nhà nước phải thực hiện. Theo HSBC, Việt Nam cần cải thiện điều này để hệ thống tài chính hoạt động phù hợp và tăng tính hiệu quả của thị trường, tăng tốc độ tự hồi phục của thị trường. Nếu không có một khung pháp lý mạnh (và năng lực hành pháp) cho thủ tục phá sản thì quy trình thu hồi nợ sẽ kéo dài tại Việt Nam, làm tăng thất thoát tài sản và tính hiệu quả của nền kinh tế. Vì nợ xấu chính là rào cản đối với khả năng tăng dòng vốn vào nền kinh tế chậm lại.

Mặc dù kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tăng tốc, nhưng HSBC cho rằng kết quả sẽ đạt trên 10% trong năm nay và dự báo năm sau cũng có tỷ lệ tăng tương đương. Lý do mà HSBC đưa ra con số này vì nhiều khả năng tín dụng sẽ tăng tốc vào giai đoạn cuối năm và dù tiêu dùng cá nhân có xu hướng tăng dần nhưng sẽ không tăng mạnh do niềm tin người tiêu dùng còn yếu.

Xuất khẩu của Việt Nam vẫn sẽ giữ vai trò thúc đẩy chính đối với GDP. Bằng việc NHNN đang nỗ lực hết sức để thúc đẩy nguồn vốn tín dụng cho nhu cầu nội địa, hy vọng việc giảm trần lãi suất huy động gần đây sẽ tăng kích thích tiêu dùng và khiến cho các NH giảm lãi suất cho vay. Theo HSBC, động thái này là một phần của biện pháp kích thích để tăng trưởng tín dụng đạt mục tiêu 12-14% cũng như thúc đẩy cầu nội địa.

Nhìn chung, với diễn biến nền kinh tế hiện tại, các chuyên gia tài chính nước ngoài có chung đánh giá là chính sự nỗ lực cải cách trong lĩnh vực NH, NHNN thể hiện sự minh bạch khi cung cấp thông tin và định hướng thị trường đã có tác động tích cực lên niềm tin của người tiêu dùng và nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, đâu đó vẫn có rủi ro nếu tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ khi lạm phát thấp, tín dụng không tăng. Nhưng NHNN, Chính phủ Việt Nam xác định ưu tiên rõ ràng là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá ổn định.

Quỳnh Chi

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000