Tiền gửi Kho bạc: Góp phần thực hiện quản lý vốn NSNN

11:15 | 20/09/2017

Tiền của Kho bạc Nhà nước gửi tại các NHTM không nằm im mà vận động và phục vụ cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Trong quá trình này, NHTM về bản chất là làm dịch vụ cho Kho bạc Nhà nước.

Bình Định:​ VietinBank và KBNN phối hợp thu ngân sách Nhà nước
Ngân hàng Quân đội hợp tác song phương với Kho bạc Nhà nước
Để quản lý NSNN minh bạch, hiệu quả
Ông Nguyễn Hoàng Minh

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào ngân hàng đến hết tháng 8/2017 khoảng 160.000 tỷ đồng, trong khi vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản mới chỉ giải ngân được 144.099 tỷ đồng, tương đương với 44% kế hoạch. Phóng viên Thời báo Ngân hàng phỏng vấn ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM về vấn đề tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ngân hàng.

Dư luận đang quan tâm giải ngân vốn ngân sách cho các dự án đầu tư chậm chạp, trong khi tiền gửi của Kho bạc Nhà nước lại đang nằm im trong hệ thống ngân hàng. Từ phía ngân hàng một tổ chức đang quản lý nguồn ngân sách Nhà nước, ông có lý giải điều gì?

Trước hết khẳng định tiền gửi của Kho bạc Nhà nước theo đánh giá là đang nằm im trong hệ thống ngân hàng là không đúng. Về bản chất Kho bạc Nhà nước mở tài khoản và gửi tại các NHTM như hiện nay nhằm thực hiện nghiệp vụ quản lý thu - chi của Kho bạc Nhà nước. Ở góc độ quản lý và hoạt động ngân hàng, việc này mang lại hai lợi ích chính sau:

Thứ nhất, thông qua hệ thống ngân hàng, Kho bạc Nhà nước thực hiện thu - chi ngân sách Nhà nước hiệu quả, qua đó thực hiện thu các khoản ngân sách như thu thuế, phí và thực hiện các khoản chi ngân sách: chi thường xuyên, chi đầu tư… Như mọi khách hàng mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng, mỗi “lệnh” của Kho bạc Nhà nước, với vai trò là chủ tài khoản, khi Kho bạc Nhà nước cần chi tiêu hoặc chi đầu tư vào dự án nào thì NHTM bắt buộc phải chuyển tiền cho các nhà thầu, công trình đầu tư có vốn ngân sách Nhà nước.

Hiện nay, tiền gửi Kho bạc Nhà nước đang gửi ở 5 NHTM: Vietcombank, VietinBank, Agribank, BIDV, MB. Đây đều là những NH có mạng lưới phủ rộng khắp cả nước và có năng lực tài chính mạnh sẵn sàng đáp ứng các nguồn vốn chi hộ cho vốn ngân sách.

Thứ hai, việc mở tài khoản tiền gửi tại các NHTM để phục vụ hoạt động quản lý của Kho bạc Nhà nước không chỉ cho các nghiệp vụ trên mà còn nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nước, minh bạch và công khai, đảm bảo sử dụng hiệu quả vốn ngân sách và trực tiếp tạo điều kiện mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong toàn bộ nền kinh tế. Đây là lợi ích kép vô cùng to lớn. Như vậy xét về bản chất, tiền của Kho bạc Nhà nước gửi tại các NHTM không nằm im mà vận động và phục vụ cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Trong quá trình này, NHTM về bản chất là làm dịch vụ cho Kho bạc Nhà nước.

Theo ông, có vấn đề lợi ích giữa chủ tài khoản và bên nhận tiền gửi không?

Như tôi đã phân tích ở phần trên, về bản chất tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các NHTM là tiền gửi thanh toán, Kho bạc Nhà nước gửi tại các NHTM để phục vụ cho hoạt động chi tiêu của Chính phủ, của các chính quyền địa phương, cho hệ thống hành chính sự nghiệp… tùy tính chất khoản chi và đối tượng chi: có chi thường xuyên và chi đầu tư. Vì vậy đặt vấn đề lợi ích ở góc độ vĩ mô đó là mục tiêu quản lý hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước cũng như phối hợp trong thực hiện hiệu quả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.  

Tiền gửi Kho bạc, về bản chất là NHTM làm dịch vụ cho Kho bạc Nhà nước 

Xét ở góc độ vi mô tức là đối với một đơn vị NHTM có tài khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (hiện nay là Vietcombank, BIDV, Agribank, VietinBank và MB) thì khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước là tiền gửi thanh toán, nó có tính chất linh hoạt rất cao, không kỳ hạn, do đó lợi ích chủ yếu mang lại trong vai trò là đơn vị làm dịch vụ thanh toán cho Kho bạc Nhà nước. Riêng đối với việc Chính phủ phát hành trái phiếu tạm thời chưa dùng được mà gửi ở ngân hàng thì cần quan tâm, trên nguyên lý nguồn vốn nằm trong ngân hàng không luân chuyển được thì chủ tài khoản tiền gửi đó sẽ bị ảnh hưởng.

Bởi tiền gửi Kho bạc Nhà nước gửi trong hệ thống ngân hàng là vốn trái phiếu chưa thể giải ngân vào các dự án đầu tư công nhưng vẫn phải chịu chi phí lãi suất trái phiếu. Chưa kể chi phí thời gian khi tiến độ các dự án đầu tư công chậm ảnh hưởng làm giảm hiệu quả đầu tư công. Bên cạnh đó với NHNN, tiền gửi Kho bạc Nhà nước chưa chi tiêu vào đầu tư là ngoài mong đợi của NHNN và không mang lại lợi ích gì cho NHNN. Tiền gửi Kho bạc Nhà nước ở tài khoản của NHNN cũng bằng lãi suất tiền gửi thanh toán của các NHTM gửi ở NHNN (0,3%). Bởi nguồn vốn ngân sách nếu nằm lâu trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất của NHNN, đặc biệt hoạt động điều hành lạm phát của NHNN.

Từ góc độ ngân hàng, theo ông có cách nào đẩy nhanh giải ngân vốn ngân sách đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản ở các địa phương?

Trước hết phải xác định việc chậm chạp trong giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua là thuộc về thủ tục hành chính, hay do cơ chế chính sách thì mới có hướng tháo gỡ giải quyết. Nếu thuộc về thủ tục hành chính, tôi tin rằng với một Chính phủ hành động hiện nay sẽ có hướng tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình giải ngân vốn ngân sách phục vụ cho đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều này không chỉ là vấn đề đầu tư nữa mà còn là đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Đình Hải thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950