“Tiền trực thăng” cũng là một lựa chọn của nhiều ngân hàng trung ương

09:34 | 19/03/2020

Theo các chuyên gia kinh tế, các ngân hàng trung ương vẫn còn rất nhiều vũ khí để đối phó với các cú sốc kinh tế, mặc dù các quyết định nới lỏng tiền tệ gần đây của họ không vực dậy được niềm tin của các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán toàn cầu tiếp tục lao dốc.

Các ngân hàng trung ương ráo riết ngăn chặn nguy cơ suy thoái
Ngân hàng trung ương Trung Quốc tiếp tục nới lỏng tiền tệ
Fed có gì trong bộ công cụ xử lý khủng hoảng có thể sẽ sớm được sử dụng?

Dịch Covid-19 bùng phát và đang lan nhanh ra khắp thế giới đã ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các nền kinh tế lớn. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trung ương đã tăng tốc kích thích tiền tệ bằng cách cắt giảm lãi suất và mua thêm trái phiếu chính phủ.

Các ngân hàng trung ương luôn là tâm điểm chú ý kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 với việc sử dụng không ít các công cụ chính sách độc đáo, chẳng hạn như lãi suất âm hay nới lỏng định lượng. Những biện pháp này đã tồn tại trong suốt một thập kỷ và gây ra không ít tranh cãi về tính hiệu quả của chúng. Những tranh luận này một lần nữa lại tái xuất hiện trong vài ngày qua khi mà thị trường chứng khoán vẫn lao dốc mạnh cho dù các ngân hàng trung ương mạnh tay nới lỏng tiền tệ, thậm chí tái khởi động lại các chương trình nới lỏng định lượng.

Ảnh minh họa

“Đây là một cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ bên ngoài thị trường tài chính và nền kinh tế thực. Do đó, nó nằm ngoài tầm với của các ngân hàng trung ương”, Carsten Brzeski - chuyên gia kinh tế trưởng của ING nói với CNBC qua email hôm 17/3. Joseph Stiglitz - Nhà khoa học đoạt giải Nobel cũng nói với CNBC hôm 17/3 rằng, sự bùng phát của virus corona chủng mới là “một dạng khủng hoảng khác” và một mình chính sách tiền tệ là không đủ để giải quyết cú sốc kinh tế.

Trên thực tế, mặc dù Fed đã hai lần cắt giảm lãi suất khẩn cấp chỉ trong vòng có hai tuần, đưa lãi suất cho vay qua đêm về còn 0-0,25%. Chưa dừng lại ở đó, Fed còn tuyên bố sẽ mua 700 tỷ USD trái phiếu Kho bạc và chứng khoán thế chấp để bảo vệ nền kinh tế khỏi tác động của virus. Tuy nhiên, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones vẫn có phiên lao dốc thứ ba liên tiếp kể từ khi Fed công bố quyết định của mình.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng cho biết hôm thứ Hai rằng họ sẽ tăng quy mô mua vào cổ phiếu lên gấp đôi và cho các công ty vay với lãi suất 0%. Nhưng cổ phiếu của Nhật Bản vẫn giảm 2,5% trong ngày. Chứng khoán châu Âu cũng lao dốc xuống mức thấp kỷ lục mới trong tuần trước sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu công bố các biện pháp nới lỏng mới, bao gồm cả việc tăng cường mua vào trái phiếu Chính phủ trong suốt năm 2020.

“Đây là một cuộc khủng hoảng chưa từng có, với sự kết hợp chưa từng có của sự gián đoạn cả phía cung và cầu. Thị trường tài chính phản ứng với sự không chắc chắn này. Không có hành động nào của ngân hàng trung ương có thể giải quyết được tận gốc nguyên nhân này”, Brzeski nói.

Thậm chí nhiều nhà phân tích còn lo ngại các quyết định chính sách tiền tệ gần đây có thể dẫn đến nợ cao hơn ở các quốc gia đã mắc nợ và không khiến mọi người tiêu dùng nhiều hơn. Lo ngại dịch bệnh, công dân tránh các nơi đông người như không đến nhà hàng, rạp chiếu phim, trung tâm thương mại..., ngay cả khi họ có tiền để chi tiêu.

“Mua trái phiếu có chủ quyền vốn đã có lợi suất thấp nhất trong lịch sử và việc cắt giảm lãi suất chỉ giúp những người đã mắc nợ, chứ không phải hàng triệu doanh nghiệp đang gặp khó khăn do không có doanh thu. Bạn không thể giải quyết một cú sốc về nguồn cung và dịch bệnh với các chính sách về phía cầu”, Daniel Lacalle - Nhà kinh tế trưởng tại công ty quản lý tài sản Tressis Gestion nói với CNBC hôm 17/3 qua email.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho rằng các ngân hàng trung ương có thể sẽ tiếp tục “làm nhiều hơn” nếu dịch bệnh gây nhiều tổn thương hơn nữa đến nền kinh tế của họ. “Các ngân hàng trung ương chỉ mới bắt đầu thử nghiệm với các quyền lực mới của họ”, Erik Jones - Giáo sư tại Đại học Johns Hopkins nói với CNBC.

“Nó chưa kết thúc với các ngân hàng trung ương”, Jordan Rochester - nhà phân tích tiền tệ của Nomura nói. “Nếu những gì họ đã làm là không đủ, thì họ có thể chuyển sang các hình thức nới lỏng khác, từ “tiền trực thăng” tới các quyền lực mới được chính phủ cấp cho các ngân hàng trung ương”, ông nói thêm.

“Tiền trực thăng” đề cập đến một biện pháp kích thích tiền tệ cuối cùng, bao gồm in một số tiền lớn và phân phối cho công chúng để khiến họ chi tiêu nhiều hơn và do đó, thúc đẩy nền kinh tế. Erik Nielsen - Nhà kinh tế trưởng của UniCredit cũng nói rằng, cuối cùng các ngân hàng trung ương có thể lựa chọn in thêm tiền.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530