Tiếp sức cho tăng trưởng kinh tế ở Ninh Thuận

15:48 | 03/03/2021

Có thể nói, năm 2020 là năm Ninh Thuận cũng như nhiều địa phương khác thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh gặp rất nhiều khó khăn. Song, với tinh thần chủ động, vượt khó, của địa phương; sự nỗ lực tiếp sức của ngành Ngân hàng nên Ninh Thuận vẫn tạo được những dấu ấn trong tăng trưởng kinh tế.

Sát cánh cùng khách hàng

Nằm ở Nam Trung bộ, Ninh Thuận được ví như “Tây Á thu nhỏ” tại Việt Nam. Năm 2020, cùng với cả nước Ninh Thuận gặp nhiều khó khăn do những tác động tiêu cực từ thiên tai, đặc biệt là đại dịch Covid-19. Trong điều kiện địa phương gặp “khó khăn kép”, với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng trên địa bàn đã có nhiều nỗ lực, hoàn thành tốt vai trò của mình, tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế ở địa phương.

Như nhiều địa phương khác, do những tác động của đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Ninh Thuận, gặp khó khăn, doanh thu giảm sút, thậm chí có doanh nghiệp phải dừng hoạt động... Để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn vượt qua khó khăn, ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Giám đốc NHNN tỉnh Ninh Thuận cho biết, trước tác động của đại dịch Covid-19, bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN, chính quyền địa phương, NHNN tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản quán triệt, chỉ đạo và thực hiện đôn đốc, giám sát các TCTD trên địa bàn triển khai thực hiện nghiêm túc các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19; hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh; NHNN tỉnh tổ chức buổi làm việc với các TCTD trên địa bàn nhằm nắm bắt mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-19 và kết quả triển khai hỗ trợ khách hàng; Đồng thời, thiết lập đường dây nóng xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan...

tiep suc cho tang truong kinh te o ninh thuan
Ngành Ngân hàng đã và đang nỗ lực hỗ trợ các nhà đầu tư đến với Ninh Thuận

Tiếp sức cho cộng đồng doanh nghiệp, các TCTD trên địa bàn tập trung đẩy mạnh kích cầu tín dụng, giải ngân nguồn vốn vay mới với lãi suất ưu đãi. Đặc biệt, tập trung giải ngân vốn vào các doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa, du lịch, thương mại, dịch vụ, đảm bảo rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng phục hồi sản xuất, kinh doanh sau dịch...

Trên thực tế, ngay sau khi đại dịch Covid-19 tạm lắng trên địa bàn Ninh Thuận, với sự đồng hành, tiếp sức của ngành Ngân hàng, nhiều doanh nghiệp đã từng bước khôi phục sản xuất, kinh doanh.

Đơn cử, tại Công ty TNHH Thông Thuận, một trong những tên tuổi lớn của ngành thủy sản trong khu vực, ông Trương Hữu Thông - Tổng giám đốc công ty cho biết đã được Agribank Ninh Thuận cơ cấu lại khoản nợ đến hạn, gia hạn nợ thêm 8 tháng và giảm lãi suất 1%. Ngoài ra, Agribank Ninh Thuận còn tạo điều kiện cho công ty vay mới từ gói hỗ trợ 100.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi. Đối với một doanh nghiệp bị ảnh hưởng doanh thu hơn 70% do dịch bệnh, sự hỗ trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp đứng vững và từng bước phục hồi sau dịch bệnh.

Trong khi đó, trên mặt trận nông nghiệp, nông thôn Ninh Thuận là địa phương có tiềm năng, lợi thế thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Tuy nhiên, năm 2020 Ninh Thuận gặp rất nhiều khó khăn do hạn hán, địa phương đã phải công bố cấp rủi ro thiên tai (cấp độ 3) do hạn hán trên địa bàn. Để hạn chế những thiệt hại Ninh Thuận đã phải dừng sản xuất ở trên một diện tích lớn. Nhằm hỗ trợ bà con, các TCTD trên địa bàn cũng đã nỗ lực vào cuộc cung ứng đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng người dân, doanh nghiệp, đồng thời thực hiện linh hoạt các giải pháp tín dụng giúp bà con vượt qua khó khăn, ổn định, duy trì và phát triển sản xuất.

Trước đó, các TCTD trên địa bàn Ninh Thuận cũng luôn tập trung vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Qua đó, tạo đòn bẩy để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đúng tinh thần Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, tăng cường đầu tư tín dụng phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, bền vững; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, góp phần hình thành một số ngành sản xuất, kinh doanh chủ lực, có sức cạnh tranh trên thị trường của Ninh Thuận.

Tiếp tục đồng hành

Có thể nói, năm 2020 là năm Ninh Thuận cũng như nhiều địa phương khác thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh gặp rất nhiều khó khăn. Song, với tinh thần chủ động, vượt khó, của địa phương; sự nỗ lực tiếp sức của ngành Ngân hàng nên Ninh Thuận vẫn tạo được những dấu ấn trong tăng trưởng kinh tế. Đây là tín hiệu lạc quan, tạo đà phát triển cho năm 2021 - năm đầu tiên đưa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đi vào cuộc sống.

tiep suc cho tang truong kinh te o ninh thuan

Cụ thể, mặc dù gặp “khó khăn kép” vừa bị hạn gay gắt, vừa bị tác động của đại dịch Covid-19 song năm 2020, trong tổng số 15 chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh giao, có 14/15 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Trong đó, trên mặt trận kinh tế, có 5/5 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, tốc độ tăng trưởng GRDP ước đạt 12,17%; Cơ cấu kinh tế có bước chuyển tích cực; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 28,4%, tăng 0,67%; công nghiệp - xây dựng chiếm 34,9%, tăng 37,21%; khu vực dịch vụ chiếm 36,7%, tăng 2,08%.

Đặc biệt, “điểm nhấn” tạo những gam màu sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế của Ninh Thuận, đó là ngành công nghiệp có bước tăng trưởng cao. Tổng giá trị sản xuất toàn ngành đạt 16.972 tỷ đồng, tăng 22,55% so với năm trước. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với năm trước như: Điện mặt trời tăng 147,8%; điện gió tăng 58,5%. Tính đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 32 dự án điện mặt trời, với tổng công suất 2.256,85MW đi vào hoạt động...

Từ một địa phương thuộc diện “nghèo nhất nước”, Ninh Thuận đã và đang thay đổi diện mạo, nhờ những quyết sách đúng đắn trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế của địa phương... Tiếp tục đồng hành với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, năm 2021 ngành Ngân hàng Ninh Thuận xác định mục tiêu, tiếp tục hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, phát huy vai trò tích cực trong thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội địa phương. Trong đó, huy động vốn tăng tối thiểu 12%. Đầu tư tín dụng tăng 15 - 17% với lãi suất hợp lý. Cơ cấu tín dụng phù hợp với định hướng của ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.

Để thực hiện được mục tiêu trên, cũng theo ông Nguyễn Anh Tuấn, ngành Ngân hàng trên địa bàn tiếp tục triển khai các giải pháp huy động vốn tại chỗ trên cơ sở chấp hành nghiêm các quy định về lãi suất của NHNN, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương cho phát triển kinh tế và góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy mạnh các giải pháp mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, các lĩnh lực then chốt tỉnh nhà ưu tiên đẩy mạnh, phù hợp với định hướng của Ngành và nhu cầu vốn phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Đặc biệt, tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN; kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng, đa dạng hóa các kênh cung ứng dịch vụ ngân hàng, phát triển các kênh giao dịch ngân hàng và các hình thức thanh toán mới, hiện đại; phát triển, sắp xếp hợp lý mạng lưới ATM và POS trên địa bàn đảm bảo hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

Năm 2020, các TCTD trên địa bàn Ninh Thuận đã triển khai nhiều biện pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn. Nguồn vốn huy động tại chỗ đến cuối năm 2020 đạt 16.778 tỷ đồng, tăng 1.130 tỷ đồng (+7,22%) so với cuối năm 2019. Trong khi đó, dư nợ cho vay đến 31/12/2020 đạt 30.379 tỷ đồng, tăng 5.831 tỷ đồng (+23,75%) so với cuối năm 2019, cao hơn so kế hoạch tỉnh giao (tăng 18-20%). Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 15.043 tỷ đồng, chiếm 49,5%, tăng 2.765 tỷ đồng; cho vay trung, dài hạn đạt 15.336 tỷ đồng, chiếm 50,5%, tăng 3.066 tỷ đồng so với cuối năm 2019; dư nợ tập trung cho lĩnh vực sản xuất - kinh doanh chiếm đến 82,3%...

Hoàng Lượng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.945 23.155 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.911 23.161 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 23.000 23.170 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.180 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.966 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.958 23.158 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.960 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.010 23.170 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.650
55.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.650
55.050
Vàng SJC 5c
54.650
55.070
Vàng nhẫn 9999
50.750
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
51.050