Tiếp vốn kịp thời cho nông dân đầu tư sản xuất

09:02 | 20/02/2020

Thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, lãnh đạo Agribank chi nhánh Kiên Giang cho biết, thời gian qua, chi nhánh đã triển khai nhiều chương trình tín dụng, với tổng dư nợ trên 6.100 tỷ đồng.

Agribank hỗ trợ khách hàng khắc phục khó khăn do dịch nCoV
Nguồn vốn Agribank “tiếp sức” nhà nông đổi đời
Nhờ vốn Agribank đầu tư những trái cam mang lại giá trị tăng cao hơn cho người nông dân

Những năm gần đây, nhờ có hỗ trợ của Agribank, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đã có đủ nguồn vốn, mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư công nghệ cao trong sản xuất, gia tăng giá trị kinh tế, giải quyết việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Kiên Giang là một trong những điển hình như thế. Năm 1994, gia đình anh Trần Thành Nghiệp quyết định xa quê hương Sóc Trăng để đến định cư ở Kiên Giang, học nghề chế biến nước mắm làm phương kế mưu sinh. Sau khi đã có tay nghề ổn định, gia đình gom hết vốn liếng, mở cơ sở sản xuất nước mắm Hương Giang (tại Xã Mong Thọ, huyện Châu Thành). Nhờ luôn giữ chữ tín trong làm ăn, nên thương hiệu nước mắm Hương Giang ngày càng được nhiều khách hàng ưa chuộng.

Để đáp ứng đủ nguồn cung cho thị trường đòi hỏi cơ sở phải mở rộng quy mô sản xuất. Trước thực tế này, gia đình anh Nghiệp quyết định làm hồ sơ vay vốn tại Agribank Chi nhánh Kiên Giang và đã nhận được sự hỗ trợ, hướng dẫn nhiệt tình của đơn vị này. Có nguồn vốn cần thiết, gia đình anh quyết định làm thêm mặt hàng mới, đó là chế biến và đóng hộp thủy sản xuất khẩu. Hiện nay, chỉ riêng mặt hàng chủ lực của Hương Giang là cá ngừ ngâm dầu, mỗi năm xuất khẩu sang các thị trường Trung Đông, Jordani, Ai Cập… khoảng 40-50 container. Đặc biệt, cũng nhờ hỗ trợ nguồn vốn của Agribank với lãi suất ưu đãi, gần đây, Hương Giang đã mạnh dạn liên kết với một công ty chế biến thực phẩm ở Châu Âu sản xuất thức ăn cho thú cưng, mỗi năm xuất khoảng 70 container.

Điều đáng quý là khi có điều kiện ăn nên làm ra, Công ty Hương Giang đã tham gia tích cực các hoạt động an sinh xã hội tại địa phương, đặc biệt là thu hút và giải quyết công ăn việc làm ổn định cho hàng trăm công nhân. Chị Huỳnh Mỹ Tiên, công nhân làm việc tại công ty đã hơn 10 năm cho biết: Làm việc ở đây có thu nhập ổn định. Điều khiến mọi người an tâm gắn bó là công ty đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình làm việc cũng như các chế độ chính sách đối với người lao động.

Thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, lãnh đạo Agribank chi nhánh Kiên Giang cho biết, thời gian qua, chi nhánh đã triển khai nhiều chương trình tín dụng, với tổng dư nợ trên 6.100 tỷ đồng. Trong đó, chỉ riêng dư nợ gói cho vay chế biến tiêu thụ thủy hải sản, nông, lâm, diêm nghiệp là trên 445 tỷ đồng, với 213 khách hàng còn dư nợ. Sự đồng hành của Agribank Chi nhánh Kiên Giang đã góp phần giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, ổn định sản xuất, giúp địa phương phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng.

Vĩnh Long cũng là một trong những tỉnh nhận được sự hỗ trợ tích cực của Agribank. Huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long hiện có hơn 4.000 ha trồng cam sành. Nhiều năm qua, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất cùng với hỗ trợ về vốn vay từ Agribank nên bà con nơi đây đã nâng cao được chất lượng cũng như sản lượng trái cam, chuyển từ cách trồng truyền thống chính vụ sang trồng cam trái vụ đạt hiệu quả cao, từ đó mà cuộc sống người dân nơi đây ngày càng ổn định.

Ông Bùi Hùng Việt ngụ tại ấp Vĩnh Sơn, xã Hựu Thành, huyện Trà Ôn cho biết, trước đây gia đình ông trồng cam và quýt theo cách truyền thống, mỗi năm cây cho ra trái một vụ nên thu nhập gia đình không ổn định. Tuy nhiên, với quyết tâm cao và chịu khó học hỏi, ông mạnh dạn chuyển đổi mô hình trồng cam từ truyền thống sang trồng trái vụ.

Nhờ có đồng vốn vay từ Agribank Chi nhánh Trà Ôn, ông đã mạnh dạn cải tạo lại 7.000 m2 đất trồng cam của gia đình. Sau 15 tháng cải tạo, ông thu hoạch vụ cam đầu tiên và cứ thế 3 tháng cây cam ra trái một đợt. Theo ông Việt cho biết, cam thuận mùa giá trung bình từ 5.000 - 6.000 đồng/kg, trong khi đó giá cam nghịch mùa từ tháng 4 đến tháng 7 có giá cao dao động từ 16.000 - 17.000 đồng/kg. Cứ hết mỗi vụ, thu nhập gia đình ông đạt gần 400 triệu đồng. “Nhờ trồng cam trái vụ mà gia đình tôi và bà con trong xóm mới có cuộc sống như ngày hôm nay. Nhưng để làm được điều này có sự góp sức rất lớn từ nguồn vốn Agribank hỗ trợ. Bà con chúng tôi vô cùng cảm ơn Agribank đã luôn đồng hành cùng người nông dân”, ông Việt bày tỏ vui mừng.

Cũng như ông Việt, ông Lê Văn Teng - người dân trồng cam trái vụ khác của ấp Vĩnh Sơn (huyện Trà Ôn, Vĩnh Long) chia sẻ, cách đây khoảng 10 năm, cuộc sống bà con chúng tôi vô cùng khó khăn, không có kinh phí để mua phân bón, cải tạo vườn cây. Nếu không có nguồn vốn Agribank, chúng tôi sẽ không thể có mô hình cam hiệu quả như hôm nay. Hiện nay, vườn cam sành của gia đình ông Teng có 3.000 m2 đang cho trái và 4.000 m2 trồng mới khoảng 1 năm tuổi. Nhiều năm nay, gia đình ông Teng ăn nên làm ra nhờ vào cây cam sành. Cuối năm 2019, gia đình ông Teng quyết định thuê thêm 8.000 m2 đất ở xã lân cận để trồng cam sành.

Thấy được hiệu quả từ cây cam sành nên bà con nông dân huyện Trà Ôn trồng ngày càng nhiều. Cam sành, nếu trồng thưa sẽ ăn trái lâu hơn, tuổi thọ của cây kéo dài 5 – 7 năm. Còn trồng dày (khoảng 500 cây/công) thì cho sản lượng nhiều, nhưng chỉ được 3 – 4 năm là cây bắt đầu suy kiệt, phải cải tạo đất trồng lại. Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân đầu tư và cải tạo trồng mới, Agribank Chi nhánh Trà Ôn luôn sát cánh và cung ứng nguồn vốn kịp thời cho bà con khi cần thiết. Theo thống kê của Agribank Chi nhánh Trà Ôn, tỷ lệ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt trên 98% tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh. Riêng dư nợ cho vay theo mô hình trồng cam là trên 101 tỷ đồng, với 784 hộ vay, chiếm 12,8% tổng dư nợ.

Ông Huỳnh Thanh Tiến, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hựu Thành (Trà Ôn, Vĩnh Long) nhận xét: Trong những năm qua nhờ sự đồng hành, hỗ trợ vốn của Agribank Trà Ôn, bà con nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đến nay diện tích trồng cam toàn xã trên 500 ha. Các  mô hình chuyển đổi đều mang lại hiệu quả cao, qua đó thu nhập bình quân đầu người của xã cũng tăng đáng kể, đạt trên 45 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm từ 11% vào năm 2014 xuống còn dưới 1,5% năm 2019. “Mong rằng trong thời gian tới Agribank vẫn tiếp tục đồng hành cùng bà con trồng cam xã Hựu Thành để bà con mở rộng mô hình, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống”, ông Tiến bày tỏ. 

Cuộc sống người nông dân huyện Trà Ôn ngày càng được cải thiện khi thị trường cam sành ổn định. Cây cam sành - loại  cây được mệnh danh là “cây lành trái ngọt” của vùng đất này đã góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo của nhiều vùng quê.

Thảo Phương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.050
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.050
48.050
Vàng SJC 5c
47.050
48.070
Vàng nhẫn 9999
44.450
45.550
Vàng nữ trang 9999
44.150
45.350