Tìm giải pháp tăng năng lực cạnh tranh cho nông nghiệp Việt khi xuất ngoại

12:12 | 20/11/2020

Sáng ngày 20/11, Báo Lao động phối hợp với NHNN Việt Nam tổ chức Hội thảo “Hiệp định EVFTA - Vai trò của ngân hàng trong hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu vào thị trường EU” nhằm tìm các giải pháp giúp cho người nông dân và doanh nghiệp Việt tăng năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Khung chính sách tín dụng hỗ trợ hình thành vùng nông sản đạt chuẩn EU

Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Ngọc Hiển, Tổng Biên tập Báo Lao động cho biết, từ ngày 1/8/2020, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực. EVFTA được ví như “con đường cao tốc” dẫn hàng hóa Việt vào thị trường Châu Âu, đặc biệt là các sản phẩm thế mạnh của Việt Nam là nông thủy sản. Chinh phục được thị trường EU đồng nghĩa với việc chinh phục được một sân chơi lớn vô cùng tiềm năng với quy mô dân số hơn 500 triệu người và GDP đạt 15.000 tỷ USD.

Tuy nhiên, với những đòi hỏi khắt khe của thị trường EU, một mình doanh nghiệp hay người nông dân Việt Nam không thể “đơn thương độc mã” tiến vào thị trường này. Bởi vậy, mối liên kết giữa ngân hàng - doanh nghiệp - nông dân trong chuỗi giá trị là con đường tất yếu chinh phục thị trường Châu Âu khó tính.

Trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đồng hành cùng người nông dân, các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn để người nông dân đầu tư sản xuất nông nghiệp theo mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt cải tiến dây chuyền, nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp hàng hoá Việt Nam có thể tiến sâu vào thị trường EU, mở rộng thị phần và xuất khẩu bền vững.

tim giai phap tang nang luc canh tranh cho nong nghiep viet khi xuat ngoai
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo

Chia sẻ thông tin chính sách tín dụng tại hội thảo, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết: Ðến ngày 17/11/2020, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt 8.790.536 tỷ đồng, tăng 7,26% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ năm 2019 là 10,28%). Tốc độ năm 2020 có thể chậm hơn so với các năm trước do Covid-19 cũng như tác động của thiên tai, bão lũ. Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đến 30/10/2020 ước tăng 6,5% so với cuối năm 2019.

Tính đến nay, cho vay nông nghiệp - nông thôn đạt khoảng 2,16 triệu tỷ đồng; trong đó có 27.000 tỷ đồng cho lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, 5.000 tỷ đồng cho những doanh nghiệp tham gia vào chuỗi liên kết giá trị.

Agribank là ngân hàng chủ lực trong cho vay nông nghiệp, nông thôn. Hiện, dư nợ của Agribank cho lĩnh vực này là hơn 86.000 tỷ đồng, chiếm đến 40% tổng dư nợ của nông nghiệp nông thôn cả nước.

Chia sẻ cụ thể hơn về chính sách tín dụng khuyến khích nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất nông nghiệp, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các nền kinh tế, bà Hà Thu Giang cho biết, NHNN đã tham gia biên soạn, ban hành, triển khai nhiều chính sách để hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực này. Từ Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010, sau đó được thay thế bởi Nghị định 55/2015/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP.

Những chính sách đó đã đạt được những kết quả tích cực. Đến nay đã có trên 80 tổ chức tín dụng và 1.181 quỹ tín dụng nông dân tham gia cho vay nông nghiệp nông thôn với địa bàn rộng khắp cả nước. Tính bình quân giai đoạn 2016-2019, tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 19,83%, cao hơn mức tăng 16,02% tín dụng chung của nền kinh tế.

“Năm 2020, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, bão lũ, dịch tả lợn Châu Phi…, song tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vẫn có tăng trưởng khá. Đến cuối tháng 10/2020 ước đạt trên 2,17 triệu tỷ đồng, tăng 6,5% so với cuối năm 2019, chiếm gần 25% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế”, bà Giang chia sẻ.

Mặc dù tín dụng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn tăng trưởng tích cực nhưng theo lãnh đạo NHNN, đầu tư tín dụng với các mô hình liên kết phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn nhiều hạn chế. Dẫn số liệu, dư nợ cho nông nghiệp công nghệ cao mới đạt 27.000 tỷ đồng tính đến thời điểm này, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho rằng đây chưa phải là con số mong đợi.

“Cách đây 4 năm, tại một hội nghị ở TP.HCM, Thủ tướng đã giao cho ngành Ngân hàng có ngay gói 50.000 tỷ đồng cho lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Và chúng tôi cũng đã có ngay gói này. Sau đó, qua một dự án ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trồng rau tại Hà Nam, Thủ tướng thấy đó là con đường đi lên của nông nghiệp nên có giao thêm 1 con số nữa là 100 nghìn tỷ đồng. Tôi cũng đã nhận nhiệm vụ với Thủ tướng là có 100 nghìn tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao. Các ngân hàng cũng đã rất hưởng ứng con số 100 nghìn tỷ đồng đó, Thế nhưng đến nay, dư nợ cho nông nghiệp công nghệ cao mới đạt 27.000 nghìn tỷ đồng. Đây là con số mà ngành Ngân hàng chúng tôi rất suy nghĩ”, ông Đào Minh Tú cho hay.

“Rõ ràng, chủ trương của Đảng và Nhà nước rất ủng hộ, cơ chế chính sách không thiếu, rồi có mạng lưới rộng khắp của các tổ chức tín dụng, vậy mà tại sao vốn vào 2 lĩnh vực nói trên vẫn chưa gia tăng được? Chưa phát triển nhanh được? Đây là vấn đề mà chúng ta phải thảo luận”, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú đặt vấn đề.

Rất chia sẻ với băn khoăn của lãnh đạo NHNN, đồng thời ghi nhận thời gian qua nhiều cơ chế chính sách, cung ứng vốn và công nghệ cho lĩnh vực trên đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, TS. Cấn Văn Lực cho rằng nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam vẫn còn đối mặt nhiều khó khăn, thách thức.

Theo TS. Lực, chính sách ứng dụng công nghệ cao chưa được cụ thể hóa và chưa được nhất quán thực hiện nên chưa thu hút được nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này. Sự liên kết hợp tác giữa 6 nhà: Nhà nông - Nhà nước - Nhà băng - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp và Nhà Hợp tác xã/Hiệp hội trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn thiếu chặt chẽ, bền vững. Các cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra chưa được thực hiện nghiêm túc, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ hàng hóa tạo khó khăn cho ngân hàng khi thu hồi vốn vay.

Về phía người vay thường thiếu tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo có vấn đề như đất nông nghiệp không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu để đăng ký giao dịch bảo đảm, thiếu các công cụ phòng ngừa, hạn chế rủi ro dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp trong khi triển khai bảo hiểm nông nghiệp trong thực tế còn chậm, chưa thực sự là công cụ phòng ngừa rủi ro. Sự phối hợp chính sách thực hiện giữa các bộ, ngành, các bên liên quan trong phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung, nông nghiệp công nghệ cao nói riêng, chưa thực sự tốt.

Bổ sung thêm về những khó khăn, hạn chế, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Hà Thu Giang cho hay, việc triển khai cho vay liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của các tổ chức tín dụng trong thời gian qua còn gặp một số khó khăn, thách thức như: Đầu tư tín dụng đối với các mô hình liên kết còn nhiều hạn chế do hợp đồng liên kết thiếu chặt chẽ, hiện tượng vi phạm hợp đồng liên kết của người dân. Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là lĩnh vực có vốn đầu tư lớn, tuy nhiên hiện nay số lượng các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và số lượng doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được công nhận chưa nhiều; chưa có nhiều mô hình bài bản, hiệu quả, nguồn lực tài chính yếu. Sản xuất nông nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro do thiên tai, dịch bệnh...

Công nghệ cao là chìa khóa mở cánh cửa thị trường châu Âu

Để tận dụng tối đa cơ hội từ EVFTA, theo bà Bùi Thị Thanh An, Phó cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương), nông sản Việt Nam là mặt hàng rất có tiềm năng xuất khẩu sang Châu Âu. Theo Hiệp định EVFTA, EU cam kết bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, trong đó sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý thuộc ngành hàng nông, thủy sản chiếm 62%. Cụ thể, hàng rau quả chiếm 49%, thủy sản và chế biến từ thủy sản chiếm 13%, còn lại sản phẩm cây công nghiệp - chế biến và các sản phẩm khác chiếm 38%.

tim giai phap tang nang luc canh tranh cho nong nghiep viet khi xuat ngoai
Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giúp nâng cao chất lượng nông sản

Tuy nhiên, EU vốn nổi tiếng là một thị trường khó tính, các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, tem nhãn, bao bì đều quy định rất chặt chẽ, khắt khe. Vì vậy, theo bà Bùi Thị Thanh An, công nghệ cao chính là then chốt giúp nông sản Việt Nam có thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao từ thị trường EU.

“Không đảm bảo được những điều kiện ngặt nghèo về chất lượng thì sẽ vô hiệu hóa các lợi thế mà EVFTA mang lại”, bà Bùi Thị Thanh An nói.

Để khắc phục những khó khăn, thách thức, đồng thời tạo đòn bẩy giúp nông dân, doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, ông Cấn Văn Lực cho hay, cần có một Nghị quyết mới của Đảng về phát triển tam nông. Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan xây dựng và hoàn thiện hệ thống các kênh thông tin dự báo về thị trường, giá cả nông sản nhằm giúp nông dân và doanh nghiệp có định hướng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ổn định; Xây dựng kế hoạch và chiến lược tiếp thị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản và tập trung xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cho các mặt hàng nông sản tiềm năng để xây dựng những thương hiệu mạnh, cạnh tranh được trên thị trường thế giới và gia tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu; Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao bài bản, được tổ chức và phát triển hợp lý; Trình độ chế biến chuyên sâu, hiệu quả và phương án trả nợ vay khả thi nhằm giảm áp lực trong quản lý rủi ro cho các tổ chức tín dụng.

Về phía các tổ chức tín dụng, theo ông Lực, cần xây dựng, đổi mới chính sách và qui trình cấp tín dụng nông nghiệp - nông thôn đối với từng phân khúc khách hàng (đảm bảo đúng qui định nhưng đơn giản hóa thủ tục, dễ hiểu; Thiết kế các sản phẩm đặc thù, nhất là tài trợ chuỗi cung ứng/chuỗi giá trị; Cơ cấu lại màng lưới, kênh phân phối hoạt động…

Về phía doanh nghiệp nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng: Cần chủ động tiếp cận đánh giá nhu cầu thị trường, nâng cao trình độ quản lý, năng lực sản xuất, lành mạnh hóa tình hình tài chính và xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh, chống chịu; Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bài bản, hiệu quả cùng phương án trả nợ vay khả thi nhằm giảm áp lực trong quản lý rủi ro cho các tổ chức tín dụng; Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đặc biệt chuyển giao công nghệ cao, nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, nông nghiệp sinh thái...; Có chiến lược tiếp thị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, tập trung xây dựng thương hiệu, tận dụng FTA thế hệ mới, nhất là EVFTA.

Muốn tham gia sân chơi lớn này, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho rằng, chắc chắn cần phải có nguồn vốn lớn, đầu tư lớn. Ngành Ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng đối việc phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp là sống còn trong nhiều năm qua, thời gian tới tiếp tục triển khai các giải pháp để dòng vốn chảy vào nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị tiếp tục gia tăng.

Cụ thể, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất góp phần ổn định nền tảng vĩ mô để các tổ chức, cá nhân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp trong đó mạnh dạn đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mở rộng liên kết chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55, 116 của Chính phủ, trong đó khuyến khích phát triển ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch và chuỗi liên kết trong nông nghiệp; Đa dạng hóa các loại sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng phù hợp với từng phân khúc, đối tượng khách hàng tham gia chuỗi liên kết, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, quản lý dòng tiền để tăng cường khả năng cho vay không có tài sản bảo đảm nhằm tháo gỡ khó khăn về tài sản bảo đảm cho khách hàng...

Để các chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn phát huy hiệu quả, dòng vốn chảy vào lĩnh vực này nhiều hơn nữa, NHNN cũng mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương như đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ giải pháp được giao tại các Nghị định của Chính phủ thúc đẩy phát triển nông nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, bảo đảm phù hợp giữa quy hoạch tổng thể và quy hoạch từng vùng, địa phương và thị trường; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ tiên tiến hiện đại phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp.

Theo số liệu mới nhất của Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN, dư nợ tín dụng đối với ngành nông, lâm, thủy sản đến 30/10/2020 ước tăng 5,22% so với 31/12/2019. Dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng đến 30/10/2020 ước tăng 5,81% so với 31/12/2019. Dư nợ tín dụng ngành TMDV đến 30/10/2020 ước tăng khoảng 8,2% so với 31/12/2019.

Đối với tín dụng 5 lĩnh vực ưu tiên: Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đến 30/10/2020 ước tăng 6,5% so với cuối năm 2019. Tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu đến 30/10/2020 ước tăng khoảng 10% so với cuối năm 2019. Tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đến 30/10/2020 tăng 7,21% so với cuối năm 2019. Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đến 30/10/2020 ước giảm 3,83% so với cuối năm 2019. Tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến 30/10/2020 ước giảm 0,81% so với cuối năm.

Về kết quả hỗ trợ Covid theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN, đến 09/11/2020, các TCTD đã: (i) cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 272.183 khách hàng với dư nợ 341.855 tỷ đồng; (ii) miễn, giảm, hạ lãi suất cho 552.725 khách hàng với dư nợ 931.018 tỷ đồng; (iii) cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/1 đến nay đạt 2.017.761 tỷ đồng cho 356.385 khách hàng.

Riêng NHCSXH (không thuộc đối tượng của Thông tư 01/2020/TT-NHN), cũng đã thực hiện gia hạn nợ cho 166.709 khách hàng với dư nợ 4.163 tỷ đồng, cho vay mới đối với 1.834.877 khách hàng với số tiền 66.773 tỷ đồng.

Thống kê sơ bộ kết quả hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn vốn vay cho khách hàng bị ảnh hưởng bão lũ miền Trung và Tây Nguyên đợt tháng 10-11/2020. Đến 15/11/2020, các TCTD đã: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 1.360 khách hàng với dư nợ gần 109 tỷ đồng; (ii) Miễn giảm lãi vay cho 13.458 khách hàng với dư nợ được miễn, giảm lãi là 6.941 tỷ đồng; (iii) Cho vay mới để khôi phục sản xuất đối với 2.545 khách hàng với doanh số cho vay đạt 774 tỷ đồng; (iv) Riêng NHCSXH đang thực hiện khoanh nợ cho 2.087 khách hàng với dư nợ 85,93 tỷ đồng, xóa nợ cho 23 khách hàng số tiền 470 triệu đồng.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.055 23.265 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.085 23.265 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.034 23.264 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.070 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.080 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23.285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.070 23.270 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.080 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.100 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.200
Vàng SJC 5c
55.750
56.220
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.400
54.100