Tín dụng chính sách hỗ trợ trực tiếp cho giảm nghèo

10:12 | 17/10/2018

Dòng vốn tín dụng chính sách dù nhiều chương trình, song không dàn trải mà tập trung chính công cuộc giảm nghèo với cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo. 90% dư nợ tín dụng chính sách được tập trung đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giáo dục và đào tạo.

Tín dụng chính sách và sự nghiệp trồng người
Tín dụng chính sách ở quận Hải Châu
"Cận cảnh" tín dụng chính sách quê hương Kinh Bắc

NHCSXH đã làm tốt sứ mệnh giảm nghèo

Nhìn lại 30 hộ thoát nghèo được biểu dương tại Hội nghị biểu dương huyện, xã, hộ gia đình vươn lên thoát nghèo giai đoạn 2016 - 2020 diễn ra tại Hà Nội vào ngày 12/10 vừa qua – một trong chuỗi sự kiện hướng tới ngày Vì người nghèo năm 2018 thì niềm vui của các cán bộ NHCSXH còn được nhân đôi khi các hộ gia đình trên đều có sự góp sức trực diện từ vốn vay ưu đãi.

30 hộ gia đình với hoàn cảnh, khó khăn khác nhau tưởng như không dễ gì hóa giải trong nhiều năm, chứ chưa nói đến thời gian 2 năm rưỡi qua. Nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra mà Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ và Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung đều nhắc đến, bên cạnh ý chí vươn lên của người nghèo, đó chính là hệ thống các chính sách giảm nghèo thường xuyên, như hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sạch, vệ sinh, tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tiếp cận được đầy đủ các dịch vụ xã hội, từng bước cải thiện, ổn định cuộc sống.

Như gia đình chị Đinh Thị Lệ Vui ở thôn 1, xã Trà Mai, huyện Nam Trà My (Quảng Nam) năm 2015 vẫn thuộc diện hộ nghèo. Dù được chính quyền vận động hướng dẫn cách phát triển kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật, song chỉ khi tiếp cận với nguồn vốn tín dụng 50 triệu đồng của NHCSXH, kinh tế gia đình chị mới có thể chuyển sang trang mới.

Cùng với tiết kiệm của gia đình, chị đầu tư mua 10 con heo, một cặp con bò và 100 con gà, sửa chữa chuồng trại nuôi tập trung, không thả rông như trước. 0,5ha đất trồng cây lâu năm, gia đình chuyển sang trồng keo lai, 02ha đất vườn và cây lâu năm còn lại, anh chị chuyển đầu tư 100 gốc quế Trà My. Nhờ mưa thuận gió hòa, chăm sóc đúng kỹ thuật, gia đình chị đã bắt đầu có nguồn thu, vượt qua giai đoạn khó khăn. Có chút vốn chị Vui thêm mở cửa hàng kinh doanh thêm tạp hóa để tạo nguồn thu nhập hằng ngày, lấy ngắn nuôi dài. Ngay năm 2016, gia đình chị đã thu được 200 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi 100 triệu đồng. Đến năm 2017 con số tiền lãi đã nâng lên 150 triệu đồng. Có nguồn lực kinh tế, anh chị đã thực hiện được ước mơ cho con trai đi học đại học tại Đà Nẵng và để rồi anh chị nhận được sự hỗ trợ của chính con trai mình trong việc tiếp cận công nghệ thông tin, tận dụng được ưu điểm của mạng internet phục vụ sản xuất – kinh doanh.

Những con người đầy ý chí và nghị lực thoát nghèo ấy không chỉ giúp thay đổi số phận của chính mình mà góp phần hòa vào bức tranh giảm nghèo của địa phương như trong 8 huyện ra khỏi danh sách huyện nghèo và 38 xã đặc biệt khó khăn thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 và xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được tuyên dương trong Hội nghị biểu dương trên.

Điều này cũng thêm một lần nữa khẳng định NHCSXH đã làm tốt vai trò sứ mệnh của mình hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đặc biệt trong giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia được NHCSXH định hướng chỉ đạo và triển khai bài bản xuyên suốt cả hệ thống.

Cho đến việc vận động các nguồn lực xã hội cho công tác giảm nghèo với việc triển khai sâu rộng có hiệu quả sản phẩm tiết kiệm nhận tiền gửi từ dân cư người nghèo nhằm tạo thói quen tích lũy và hỗ trợ người nghèo từng bước tiếp cận với dịch vụ ngân hàng...

Cơ cấu nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã chuyển biến theo hướng tăng nguồn vốn NHCSXH huy động được NSNN cấp bù lãi suất và nguồn lực tại địa phương, giảm dần nguồn vốn cấp trực tiếp từ NSNN cho các chương trình, thể hiện rõ chủ trương “đa dạng hóa nguồn lực” với phương châm “Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân cùng làm”. Nhờ đó, mặc dù có những thời điểm khó khăn nhưng nguồn vốn tín dụng chính sách thời gian qua đã cơ bản đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đến 30/9/2018, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 195.970 tỷ đồng, tăng 51.315 tỷ đồng (+35,5%) so với đầu năm 2016. Trong đó vốn địa phương ủy thác đạt 11.364 tỷ đồng có sự tăng trưởng ấn tượng với mức tăng 6.469 tỷ đồng so với đầu năm 2016.

Tín dụng chính sách xã hội đã giúp cho hàng triệu người nghèo trong cả nước cải thiện được cuộc sống

Cùng chung tay không để người nghèo bị bỏ lại phía sau

Để tăng cường hoạt động tín dụng chính sách xã hội góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, NHCSXH đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tích cực tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, sửa đổi nhiều cơ chế chính sách mới, như: Cho vay giải quyết việc làm theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP; Cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017 - 2020; Cho vay hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn vùng ĐBSCL; Cho vay hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung; Cho vay bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo nhanh và bền vững; Nâng mức vay đối với chương trình HSSV; điều chỉnh mức vay tín dụng tối đa thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Việc cho ra đời các chính sách mới này không chỉ giúp các hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập mà còn đáp ứng các tiêu chí khác của giảm nghèo đa chiều. Dòng vốn tín dụng chính sách dù nhiều chương trình, song không dàn trải mà tập trung chính công cuộc giảm nghèo với cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo. 90% dư nợ tín dụng chính sách được tập trung đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giáo dục và đào tạo. Trong giai đoạn 2016 - 2018, doanh số cho vay các chương trình tín dụng đạt 159.091 tỷ đồng; doanh số thu nợ đạt 116.411 tỷ đồng với trên hơn 6,1 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn. Tổng dư nợ đến 30/9/2018 đạt 184.727 tỷ đồng, tăng 42.199 tỷ đồng (+29,6%) so với thời điểm đầu năm 2016.

Chung tay cùng Chính phủ không để người nghèo bị bỏ lại phía sau, bên cạnh các hoạt động chuyên môn, các cán bộ NHCSXH cũng đã dành tâm huyết cho hoạt động an sinh xã hội, tạo thêm nguồn lực cho giảm nghèo. Trong giai đoạn 2016 - 2018, NHCSXH thực hiện các hoạt động an sinh xã hội đối với cộng đồng, số tiền hơn 70 tỷ đồng, trong đó: tặng quà cho hộ gia đình nghèo, hộ gia đình chính sách, xây nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, hỗ trợ các gia đình gặp rủi ro do thiên tai, mưa lũ, bị sự cố về môi trường tại các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Nam Trung Bộ...

Cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, để phấn đấu đạt mục tiêu này, giai đoạn 2016 - 2018 nguồn vốn tín dụng chính sách đã đầu tư đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại 100% các xã, phường trên toàn quốc và giúp gần 1,1 triệu lượt hộ vượt ngưỡng nghèo; góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, đảm bảo thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015.

Tuy nhiên, xóa nghèo vẫn còn là một công cuộc dài ngày, phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức như Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ ra rằng công tác giảm nghèo cũng còn có những hạn chế, kết quả giảm nghèo chưa thực sự mang tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn cao; tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc nhiều nơi vẫn còn trên 50%, có nơi còn đến 70%.

Vì vậy, để tiếp tục đóng góp tích cực vào công cuộc giảm nghèo, bên cạnh việc bố trí nguồn lực và tổ chức triển khai tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã ban hành, NHCSXH sẽ chủ động báo cáo và làm việc với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ bố trí kế hoạch vốn NSNN để cấp vốn cho vay các chương trình tín dụng chính sách, cấp vốn điều lệ cho NHCSXH theo quy định. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, đưa ứng dụng công nghệ vào hoạt động mạnh hơn để đơn giản thủ tục theo quy định, duy trì và nâng cao chất lượng tín dụng nhằm phục vụ tốt hơn nữa người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Theo NHCSXH, trong giai đoạn 2016 - 2018, doanh số cho vay các chương trình tín dụng đạt 159.091 tỷ đồng; doanh số thu nợ đạt 116.411 tỷ đồng với trên hơn 6,1 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn. Tổng dư nợ đến 30/9/2018 đạt 184.727 tỷ đồng, tăng 42.199 tỷ đồng (+29,6%) so với thời điểm đầu năm 2016.

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750