Tín dụng lấy lại đà tăng trưởng

08:25 | 06/07/2020

Ngân hàng không thiếu vốn, tiếp tục thắt lưng buộc bụng để hỗ trợ khách hàng - đó là khẳng định của lãnh đạo ngành Ngân hàng tại tất cả các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được tổ chức liên tục tại nhiều tỉnh, thành phố thời gian qua.

Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tổ chức ngày 2/7, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho biết đến ngày 29/6, tín dụng tăng 3,26%. Mức tăng này tuy thấp hơn hẳn so với con số 7,33% của cùng kỳ năm 2019, nhưng đà tăng của tín dụng đã cải thiện rõ rệt. Nhìn lại, tháng 3/2020 tín dụng chỉ tăng khoảng 1,13%; tháng 4 tăng 0,12%; nhưng đến tháng 5 đã tăng 0,53%;  đến 29/6  mức tăng so với tháng 5 là 1,28%.

Tại hội nghị này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định, Việt Nam sẽ kiên trì thực hiện mục tiêu kép trong 6 tháng cuối năm: không để dịch Covid-19 quay trở lại, đồng thời quyết liệt thực hiện các biện pháp phục hồi tăng trưởng. Thủ tướng yêu cầu NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn, hiệu quả, để kích thích tổng cầu, thúc đẩy tăng trưởng phù hợp, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định lạm phát dưới 4%; Tín dụng phải tăng ít nhất 10% năm nay...

Ảnh minh họa

Không phải chỉ thời điểm này - khi nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mà từ lâu với vai trò xương sống của nền kinh tế, ngành Ngân hàng đã xác định hỗ trợ tăng trưởng là một trong những mục tiêu quan trọng. 10% cũng không phải là cao so với mức tăng trung bình của tín dụng trong nhiều năm trở lại đây. Song trước tác động tiêu cực của dịch Covid-19 đến kinh tế trong nước và toàn cầu thì đây là thách thức không nhỏ. Bởi, cùng với nhiệm vụ này ngành Ngân hàng còn phải kiểm soát được lạm phát, đảm bảo an toàn hệ thống… 

Về tăng trưởng tín dụng, vốn chiếm trên 50% thị phần, nhóm bốn NHTM nhà nước Vietcombank, BIDV, VietinBank, và Agribank sẽ phải giữ vai trò đầu tàu trong thực thi mục tiêu này. Điểm lại, lãnh đạo Vietcombank cho biết, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng hiện cao hơn mức tăng của toàn hệ thống. Năm nay Vietcombank đặt mục tiêu dư nợ tín dụng tăng 10%. Cập nhật đến 31/3/2020, dư nợ cho vay của BIDV là trên 1.106.000 tỷ đồng. Ngân hàng này đặt mục tiêu tín dụng tăng trưởng 9% trong năm nay. Đây cũng là năm đầu tiên BIDV có sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài KEB Hana Bank. Do đó việc hoàn thành các mục tiêu kinh doanh năm 2020 rất quan trọng đối với BIDV để “nói chuyện” với đối tác về chiến lược phát triển trong tương lai. Tháng 6/2020 Quốc hội đã nhất trí bổ sung 3.500 tỷ đồng vốn điều lệ cho Agribank. Đây sẽ là động lực để Agribank tiếp tục đẩy mạnh tín dụng cho khu vực tam nông. Với VietinBank, tuy vẫn chật vật với vấn đề tăng vốn song theo ông Lê Đức Thọ, Chủ tịch HĐQT VietinBank, trong năm 2020 ngân hàng này dự kiến dư nợ tín dụng tăng trưởng 4% - 8,5%.

Ngoài những NHTM nhà nước lớn thì cũng không thể không tính đến khối các NHTMCP. Thậm chí, chúng ta có thể kỳ vọng các NHTM này có sự bứt phá mạnh. Bởi thực tế tại thời điểm này đã có một số NHTM xin được nới room tín dụng. Đơn cử, cuối tháng 5/2020, tăng trưởng tín dụng riêng lẻ của  HDBank đã đạt 8%. Con số này ở VPBank là hơn 12%, trong khi ngân hàng này được NHNN cấp room 13% nên họ đang xin được cấp thêm chỉ tiêu tín dụng. Hay tại TPBank, thời điểm tháng 5/2020, ngân hàng này đã sử dụng hết hạn mức tín dụng mà NHNN giao đầu năm. Do đó TPBank muốn được tăng chỉ tiêu tín dụng lên 15%...

Nhiều năm gần đây, quan điểm của NHNN là kiểm soát tốt tăng trưởng, không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng... Việc thực hiện định hướng này bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan: tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh, được kiểm soát quanh mức 3%; Dòng vốn tín dụng đi vào khu vực sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Từ đầu năm đến nay, mặc dù bản thân các TCTD cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19 nhưng họ vẫn nỗ lực tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ tối đa cho khách hàng.

Ngân hàng không thiếu vốn, tiếp tục thắt lưng buộc bụng để hỗ trợ khách hàng - đó là khẳng định của lãnh đạo ngành Ngân hàng tại tất cả các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được tổ chức liên tục tại nhiều tỉnh, thành phố thời gian qua. Hôm 2/7, Thống đốc Lê Minh Hưng một lần nữa khẳng định: Hệ thống TCTD và NHNN sẽ bám sát mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ để giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. NHNN sẵn sàng tăng hạn mức tín dụng cho các TCTD để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế...

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.120 23.250 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.780
57.950
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.780
57.930
Vàng SJC 5c
56.780
57.950
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.550
54.650