Tín dụng tăng khoảng 2,28%, tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định

13:41 | 01/04/2019

Đó là những thông tin được đưa ra tại buổi Họp báo thông tin về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng Quý I/2019 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sáng ngày 1/4/2019. Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng đã chủ trì buổi họp báo.

Tăng trưởng tín dụng đạt 1,9%
Giám sát việc triển khai nguồn vốn địa phương cho vay ưu đãi
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại cuộc họp báo

Linh hoạt, đồng bộ trong điều hành

Tại buổi họp báo, ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết: Ba tháng đầu năm 2019, NHNN đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ (CSTT) để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra; linh hoạt điều hành các công cụ CSTT để điều hoà thanh khoản thị trường kịp thời với kỳ hạn hợp lý. Đến ngày 25/3/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,67% so với cuối năm 2018.

Về lãi suất, NHNN đã điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, giữ ổn định các mức lãi suất điều hành và chỉ đạo TCTD rà soát, cân đối tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục ổn định, lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 6-9%/năm, 9-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Ngay sau Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng đầu năm 2019, các NHTM Nhà nước đã chủ động giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ với mức giảm phổ biến khoảng 0,5%/năm.

Với tỷ giá, trong 3 tháng đầu năm 2019, tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, được hỗ trợ từ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, thanh khoản thị trường tốt, hệ thống TCTD tiếp tục mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, nhờ đó NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Thông tin về tình hình tín dụng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - ông Trần Văn Tần chia sẻ: "Đến 25/3/2019 tín dụng tăng 2,28%, tương đương mức tăng cùng kỳ năm 2018 (tăng 2,78%). Tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng khá. Trong đó, tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 3,44%, chiếm tỷ trọng 3,14%; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 5,4%, chiếm tỷ trọng 3,12%; tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 2,79%; tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 2,23% so với cuối năm 2018, chiếm tỷ trọng khoảng 25% tổng dư nợ đối với nền kinh tế".

Riêng đối với lĩnh vực lúa gạo, để kịp thời hỗ trợ tiêu thụ lúa vụ Đông Xuân năm 2019, NHNN đã yêu cầu NHNN chi nhánh 13 tỉnh vùng ĐBSCL, các NHTM tập trung nguồn vốn, giải ngân đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, thương nhân để thu mua thóc, gạo cho người dân; riêng các NHTM Nhà nước tiên phong hạ lãi suất cho vay ngắn hạn xuống còn 6%/năm để hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua lúa gạo.

Kết quả đến nay, các TCTD tại khu vực ĐBSCL đã thực hiện giải ngân khoảng 10.719 tỷ đồng cho các tổ chức, cá nhân để thu mua trên 1,7 triệu tấn lúa gạo vụ Đông Xuân 2019, góp phần hạn chế đà giảm giá lúa gạo cho bà con nông dân. 

Bên cạnh đó, NHNN cũng kịp thời có giải pháp tháo gỡ cho người chăn nuôi lợn bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi bùng phát. Ngoài ra, các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như cho vay hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay khuyến khích nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao... cũng được các TCTD tiếp tục triển khai quyết liệt. Tín dụng đối với lĩnh vực rủi ro được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với định hướng của NHNN.

Về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, tính đến 31/01/2019, ước tính toàn hệ thống TCTD đã xử lý được khoảng 204,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu, ước đạt trên 40,1% tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42 (riêng năm 2018 xử lý được khoảng 113,4 nghìn tỷ đồng).

Quang cảnh buổi họp báo

Theo sát diễn biến để có giải pháp phù hợp

Trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến những điểm mới trong điều hành CSTT quý I/2019, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết: "CSTT là chính sách mang tính ngắn hạn, phải phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế để có những điều chỉnh phù hợp. Điểm mới trong điều hành CSTT quý I/2019 và những tháng còn lại của năm 2019 sẽ có những điểm khác biệt về thời điểm, giải pháp phối hợp, liều lượng... Tuy nhiên, với mục tiêu và phương châm điều hành của NHNN vẫn xuyên suốt là kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát nên các giải pháp điều hành của NHNN sẽ tiếp tục hỗ trợ phát triển kinh tế nhưng không chủ quan với lạm phát. Điều hành tín dụng vẫn là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng theo phương châm vẫn là mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả".

Về những diễn biến mới trên thị trường quốc tế sẽ có những tác động gì tới định hướng điều hành của NHNN, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho hay: "Trước việc xu hướng của Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) không tăng lãi suất năm 2019 với USD có vẻ không quá áp lực nhiều với điều hành CSTT. Nhưng ở chiều ngược lại, khi kinh tế thế giới giảm tốc, đặc biệt kinh tế các nền kinh tế lớn cũng sẽ có thể có những tác động tới xuất khẩu, đầu tư vào Việt Nam. Nên việc điều hành CSTT của NHNN phải theo sát những diễn biến này, những yếu tố tích cực cũng như bất lợi để có thể đánh giá thực trạng thị trường, đưa ra những giải pháp điều hành phù hợp, đạt được mục tiêu đặt ra".

Phó Thống đốc cho biết thêm, năm 2019 cũng là năm NHNN đưa ra lộ trình hạn chế tín dụng ngoại tệ. Nếu làm được điều này sẽ tạo lập cơ sở vững chắc cho thị trường ngoại tệ không bị ảnh hưởng bởi những hoạt động về cho vay ngoại tệ. Thời gian vừa qua, NHNN xuyên suốt trong các giải pháp điều hành luôn tạo sự khuyến khích lưu giữ VND, các giải pháp của NHNN đều hướng tới thu hẹp hoạt động tiền gửi và cho vay ngoại tệ theo đúng chủ trương của Chính phủ chuyển dần quan hệ tiền gửi cho vay sang quan hệ mua bán...

Trên cơ sở các mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và triển vọng kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong những tháng tới đây, NHNN tiếp tục điều hành CSTT theo định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Trong đó, điều hành nghiệp vụ thị trường mở nhằm điều tiết thanh khoản của các TCTD ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT khác, phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ và mục tiêu CSTT. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT; kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT để ổn định thị trường ngoại tệ.

Tín dụng được điều hành phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng; theo sát diễn biến tăng trưởng tín dụng tại từng TCTD để định hướng TCTD tăng trưởng tín dụng lành mạnh vào các lĩnh vực ưu tiên và hạn chế phân bổ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ.

Trong công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, NHNN xác định mục tiêu: Tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của VAMC trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững…

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.044 23.274 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.850
56.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.850
56.350
Vàng SJC 5c
55.850
56.370
Vàng nhẫn 9999
53.350
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.850
53.600