Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 đã có nhiều tín hiệu tích cực hơn hẳn so với tháng 4

14:38 | 02/06/2020

Phát biểu tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 2/6, khái quát tình hình tháng 5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, các chỉ tiêu tốt hơn hẳn tháng 4.

tinh hinh khoi sac nhieu chi tieu thang 5 tot hon han thang 4
Chính phủ họp phiên thường kỳ vào ngày 2/6. Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Theo đánh giá tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 5, các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chỉ thị số 11/CT-TTg tiếp tục được đẩy mạnh, triển khai thực hiện nghiêm túc và hiệu quả. Trong tháng, các biện pháp giãn cách xã hội đã được nới lỏng, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh trở lại, góp phần giải quyết việc làm, từng bước phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội.

“Tình hình kinh tế-xã hội trong tháng đã có những tín hiệu tích cực hơn so với tháng 4, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững”, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu rõ.

Báo cáo nhắc tới một số chỉ tiêu như chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,03% so với tháng trước, tính chung 5 tháng, CPI bình quân tăng 4,39% so với cùng kỳ.

Thị trường tiền tệ, tín dụng cơ bản ổn định, thị trường ngoại hối hoạt động hiệu quả, thông suốt, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu, thanh khoản thị trường. Tính đến ngày 20/5, huy động vốn tăng 1,85%; tín dụng tăng 1,32% so với cuối năm 2019. Trong tháng, tiếp tục điều chỉnh giảm lần 2 các mức lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. So với các nước trong khu vực, Việt Nam thực hiện mức giảm lãi suất lớn nhất.

Thị trường chứng khoán Việt Nam sang tháng 5 đã sôi động hơn nhờ tình hình dịch COVID-19 trong nước cơ bản được kiểm soát, hoạt động sản xuất, kinh doanh đã thiết lập trạng thái bình thường mới.

Giải ngân kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đạt trên 122.200 tỷ đồng, bằng 25,98% kế hoạch giao (cùng kỳ đạt 23,25%), trong đó giải ngân vốn nước ngoài có chuyển biến tích cực, đạt 12,37% kế hoạch, cao hơn so với cùng kỳ năm 2019. Tiến độ giải ngân vốn ngân sách 5 tháng đầu năm cao hơn cùng kỳ năm trước dù vẫn chưa đạt yêu cầu.

Về tình hình sản xuất, kinh doanh, sản xuất nông nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do xâm nhập mặn và hạn hán diễn ra gay gắt tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng năng suất lúa bình quân cả nước và diện tích một số cây màu vẫn tăng so với cùng kỳ.

Khu vực dịch vụ từng bước được khôi phục sau giãn cách xã hội, đặc biệt là du lịch nội địa, vận tải. Hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng có dấu hiệu tăng trở lại, tuy nhiên vẫn chưa thực sự sôi động.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng tăng 26,9% so với tháng trước; tính chung 5 tháng giảm 3,9% so với cùng kỳ, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 8,6% (cùng kỳ tăng 8,5%). Trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng nhẹ nhờ bảo đảm cung ứng đầy đủ hàng hóa thiết yếu, không có biến động về giá, đồng thời người dân có xu hướng thay đổi hành vi tiêu dùng theo hình thức mua sắm trực tuyến.

Các hãng hàng không đã khai thác trở lại các chặng bay nội địa như thời điểm trước khi có dịch, vận tải đường bộ cũng thuận lợi hơn sau nới lỏng cách ly. Hoạt động du lịch hướng tới thị trường nội địa với các gói sản phẩm ưu đãi để đảm bảo nhu cầu du lịch của người dân và tiết kiệm chi phí.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp trong tháng được cải thiện hơn so với tháng 4, với hơn 10.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 36,1% so với tháng trước và tăng 0,3% so với cùng kỳ, nhưng chỉ bằng 87% so với tháng 3 năm 2020. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng cao (tăng 32,7% so với tháng trước và tăng 105,4% so với cùng kỳ). Doanh nghiệp đã bắt đầu mạnh dạn trong việc nắm bắt những cơ hội, đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch bệnh trong 4 tháng đầu năm là rất lớn, các chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp tháng 4 ở mức thấp nên chưa thể lạc quan ngay với tình hình đăng ký doanh nghiệp có tăng trưởng trong tháng 5. Tính chung 5 tháng, cả nước có trên 48.300 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 10,5% về số doanh nghiệp và giảm 16,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2019.

Cùng với đó, nền kinh tế vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua như áp lực về tăng chỉ số giá (đặc biệt trong bối cảnh giá thịt lợn chưa giảm, giá dầu có tín hiệu phục hồi). Ccác khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, thương mại vẫn còn tồn tại do dịch bệnh... Tổng vốn đầu tư đăng ký có yếu tố nước ngoài (FDI) đạt thấp.

Tình hình lao động, việc làm vẫn chịu nhiều ảnh hưởng do tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Còn nhiều doanh nghiệp ở các địa phương khác đang rất khó khăn để duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh do thiếu chuyên gia người nước ngoài…

Tại phiên họp, Thủ tướng yêu cầu các thành viên Chính phủ tiếp tục thảo luận về các vấn đề kinh tế-xã hội, theo dõi sát tình hình quốc tế, đánh giá các nguy cơ, thách thức phải vượt qua, đề ra biện pháp, đối sách mạnh mẽ, cụ thể với quyết tâm cao để phát triển đất nước trong tháng 6 để làm đà cho kế hoạch 6 tháng cuối năm.

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080