Tổng kết 15 năm đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác

16:03 | 09/10/2019

Sáng 9/10, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam tổ chức buổi họp báo thông tin về Hội nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (Nghị quyết số 13-NQ/TW) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (KTTT) và diễn đàn kinh tế hợp tác, HTX năm 2019.

HTX phi nông nghiệp: Đóng góp chưa tương xứng
Tháo gỡ vưỡng mắc phát triển hợp tác xã
Kinh tế tập thể: Cần một hệ sinh thái để liên kết hiệu quả
Tín dụng nông nghiệp vào mô hình hội quán
Phát triển HTX: Chính sách ưu việt nhưng đến người thụ hưởng vẫn rất khó
Quang cảnh buổi họp báo

Trao đổi tại buổi họp báo, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Thành Thống cho biết sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, khu vực HTX lại hoạt động khá ổn định. Số lượng HTX tăng theo từng năm, phát triển khá đồng đều trên khắp các vùng miền, chất lượng hoạt động được nâng lên.

Bên cạnh đó, các HTX từng bước hoạt động đúng bản chất, ngày càng tập trung hơn vào việc hỗ trợ kinh tế hộ thành viên thông qua cung cấp các dịch vụ hoặc việc làm cho thành viên, nhất là HTX nông nghiệp.

Quy mô, vốn và các lĩnh vực hoạt động của HTX được mở rộng, nhiều HTX có quy mô toàn xã, huyện. Nhiều loại hình HTX mới được thành lập như HTX môi trường, HTX trường học, HTX y tế… Đây là những dấu hiệu đáng mừng, cho thấy KTTT, HTX đang phục hồi và phát triển đúng hướng.

Chính nhờ vào sự phục hồi và phát triển đúng hướng, đến nay cả nước có 22.861 HTX, thu hút gần 6 triệu thành viên tham gia. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ đã làm tăng cố lượng HTX được thành lập mới, góp phần đẩy mạnh mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết 24/2016/QH14 là phát triển 15.000  HTX nông nghiệp kiểu mới hoạt động có hiệu quả.

Không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng hoạt động của các HTX cũng ngày càng được cải thiện khi doanh thu luôn tăng theo từng năm. Nếu như năm 2003 doanh thu, lãi bình quân của một HTX là 74 triệu đồng/HTX/năm thì đến 2018 đạt 240,5 triệu đồng/HTX/năm, tăng khoảng 225%. Nhờ đó, thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX cũng tăng lên đáng kể, góp phần thực hiện xoa đói giảm nghèo, ổn định an ninh, chính trị tại cộng đồng.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay, các HTX phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều HTX, liên hiệp HTX vẫn ở trong tình trạng khó khăn, năng lực nội tại của các HTX còn yếu, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, trình độ công nghệ lạc hậu; năng lực, trình độ cán bộ quản lý trong khu vực HTX còn hạn chế khó đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường.

Ngoài ra, sự liên kết, hợp tác giữa các HTX chưa chặt chẽ, hiệu quả còn thấp, vai trò liên hiệp HTX chưa được phát huy. Công tác kế toán, tài chính của HTX chưa thường xuyên. Việc xây dựng báo cáo tài chính, phương án sản xuất kinh doanh còn hạn chế.

Cũng tại buổi họp báo, một số chuyên gia nhận định, đây sẽ là những vấn đề cần được làm rõ và giải quyết trong Diễn đàn Kinh tế hợp tác, HTX và Hội nghị Tổng kết toàn quốc Nghị quyết số 13-NQ/TW diễn ra vào ngày 14/10/2019 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Liên minh HTX Việt Nam đồng chủ trì.

Theo thông tin từ Ban tổ chức, Diễn đàn kinh tế hợp tác, HTX năm nay diễn ra theo hình thức tập trung, với chủ đề Diễn đàn năm 2019 là “Cơ chế chính sách thúc đẩy và khơi thông tiềm năng phát kinh tế tập thể, HTX”. Đồng thời Ban Tổ chức cũng phối hợp cùng Liên minh HTX Việt Nam, các HTX tổ chức trưng bày, giới thiệu những thành tựu trong 15 năm phát triển kinh tế tập thể, HTX, triển lãm giới thiệu các sản phẩm tiêu biểu của các HTX trên toàn quốc.

Trong diễn đàn sẽ diễn ra 2 phiên thảo luận chuyên đề bao gồm: Chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác, HTX và Khơi thông tiềm năng phát triển kinh tế hợp tác, HTX.

Diễn ra cũng ngày, Hội nghị Tổng kết toàn quốc Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể với mục tiêu tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết, trong đó tập trung đánh giá các kết quả đã đạt được, chỉ ra những điểm hạn chế, nguyên nhân tồn tại và trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

Hội nghị tổng kết sẽ được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại Hà Nội và các đầu cầu tại 63 tỉnh, thành phố. Hội nghị thu hút khoảng 500 đại biểu với thành phần bao gồm Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, Lãnh đạo các địa phương, các cơ quan báo chí, truyền hình, truyền thông, HTX, tổ hợp tác tiêu biểu…

Võ Hương Giang

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530
Tin đọc nhiều