TP. Hồ Chí Minh: Thị trường khách sạn đang có sự phục hồi

15:07 | 10/04/2018

Savills Việt Nam vừa tổ chức sự kiện báo cáo tổng quan thị trường BĐS TP. Hồ Chí Minh quý I/2018.

Thị trường ngóng thông tin về đơn vị quản lý khách sạn hàng đầu thế giới tại FLC Quảng Bình
Vinpearl khai trương khách sạn nội đô đầu tiên tại Nha trang
Ri -Yaz quản lý khách sạn cao cấp tại Đà Nẵng

Theo đó, thị trường bán lẻ ghi nhận tổng nguồn cung hơn 1,2 triệu m2 sàn với 73.000 m2 sàn mới từ 3 siêu thị và 2 trung tâm mua sắm được khai trương. Có 3 dự án đóng cửa và 3 dự án đổi chức năng, tổng cộng giảm 39.200 m2 sàn. Giá thuê trung bình giảm nhẹ 1% theo quý. Công suất thuê trung bình giảm nhẹ 1 điểm % do nguồn cung mới tại khu vực ngoài trung tâm có giá thuê, công suất thuê thấp. Các thương hiệu thời trang mới và thương hiệu F&B quốc tế gia nhập và thay thế những thương hiệu kém thu hút.

Ông Troy Griffiths - Phó Giám Đốc Điều hành Savills Việt Nam trình bày tại sự kiện báo cáo quý Q1. 2018

Trong khi đó, thị trường văn phòng khá sôi động. 4 dự án mới bao gồm 1 hạng B và 3 hạng C, cung cấp cho thị trường thêm 53.000 m2 sàn. Tổng nguồn cung đạt trên 1,7 triệu m2 sàn, tăng 4% theo quý và 10% theo năm. Tình hình hoạt động duy trì khả quan. Giá thuê trung bình tăng 8% theo năm. Sự gia tăng này là kết quả của việc tăng giá của các văn phòng hạng B - một sự thay thế cho văn phòng hạng A. Công suất thuê vẫn cao, ở mức 96%. Đến năm 2020, thị trường dự kiến sẽ có thêm khoảng 440.000 m2 sàn từ tất cả các hạng. Trong 2 năm tới, không có nguồn cung hạng A nào gia nhập thị trường.

Các căn hộ dịch vụ tương đối dồi dào. Có 3 dự án mới và 1 dự án đóng cửa để cải tạo, khiến nguồn cung tăng 6% theo quý và 16% theo năm. Tổng nguồn cung đạt hơn 5.100 căn. Các dự án mới có ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung toàn thị trường. Công suất thuê giảm 3 điểm % theo quý và giá thuê tăng nhẹ 1% theo quý do công suất thuê thấp và giá thuê cao từ một dự án mới. Nguồn cung tương lai dự kiến hơn 1.000 căn, gia nhập thị trường trong 9 tháng tiếp theo của 2018 sẽ gây áp lực lên tình hình hoạt động chung.

Đặc biệt, thị trường khách sạn tại TP. Hồ Chí Minh có sự phục hồi, khi nguồn cung tăng 2% theo năm, đạt trên 16.500 phòng từ 133 dự án. Công suất thuê trung bình đạt 74%, tăng 6 điểm % theo năm. Giá phòng trung bình đạt 83 USD/phòng/đêm, tăng 4% theo năm do cả 3 hạng tăng giá thuê. Năm 2018, địa phương đặt mục tiêu chào đón 7,5 triệu khách quốc tế, tăng 18% theo năm. Đến năm 2020, 14 dự án mới sẽ cung cấp khoảng 3.500 phòng. Hơn 300 phòng từ 4 khách sạn 3 đến 4 sao hiện đang chờ thẩm định sao.

Ngoài ra, căn hộ để bán cũng có nguồn cung tăng mạnh. Theo đó, hơn 10.500 căn từ 13 dự án mới và giai đoạn tiếp theo của 9 dự án hiện hữu được mở bán. Nguồn cung sơ cấp giảm 13% theo quý và 32% theo năm còn 28.600 căn. Tình hình hoạt động giảm trên 3 hạng, tổng cộng đạt 13.500 căn bán, giảm 11% theo quý nhưng tăng 51% theo năm. Hạng C vẫn chiếm ưu thế với 62% thị phần. Tỷ lệ hấp thụ đạt 48%, tăng 1 điểm % theo quý và 26 điểm % theo năm. Đến năm 2020, nguồn cung dự kiến sẽ có thêm 122.000 căn từ 93 dự án. Quận 9 dự kiến chiếm thị phần lớn nhất với 32 phần trăm. Hạng C chiếm cao nhất với 61% nguồn cung tương lai.

Nghi Lộc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950