Trái phiếu Chính phủ phải trở thành công cụ đầu tư an toàn và có tính thanh khoản cao

16:41 | 10/12/2019

Nhằm đánh giá kết quả đạt được trong 10 năm hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt và xây dựng định hướng, kế hoạch triển khai trong thời gian tới, sáng nay (10/12/2019), Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức Hội nghị “Tổng kết 10 năm hoạt động và phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ”.

Tại hội nghị, bà Phan Thị Thu Hiền, Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức đi vào hoạt động tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội từ ngày 24/9/2009.

Qua 10 năm hoạt động, thị trường trái phiếu Chính phủ đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư phát triển; thị trường TPCP đã và đang đóng vai trò then chốt để phát triển thị trường trái phiếu, sản phẩm TPCP là công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả cho các loại hình nhà đầu tư (NHTM, hệ thống bảo hiểm, hệ thống các quỹ đầu tư…).

Toàn cảnh hội nghị

Đánh giá một số kết quả cụ thể, lãnh đạo Bộ Tài chính cho biết, khung pháp lý cho hoạt động của thị trường TPCP liên tục được đổi mới, hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường theo thông lệ quốc tế.

Theo đó, trong 10 năm qua, 2 thế hệ chính sách để phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ đã được ban hành để hướng dẫn Luật Quản lý nợ công và Luật Ngân sách Nhà nước tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động của thị trường sơ cấp, thứ cấp TPCP. Sau khi Luật quản lý nợ công năm 2017 được ban hành, toàn bộ văn bản pháp lý hướng dẫn về hoạt động phát hành, giao dịch TPCP đã tiếp tục được cải tiến để phát triển thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp TPCP.

Bên cạnh đó, thị trường TPCP đã trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho NSNN, gắn công tác phát hành TPCP với tái cơ cấu nợ Chính phủ thông qua việc tập trung phát hành các kỳ hạn dài khi thị trường thuận lợi, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Việc tập trung phát hành TPCP kỳ hạn dài với chi phí huy động vốn hợp lý đã tạo điều kiện cho Chính phủ tăng khả năng vay nợ tại thị trường trong nước, giảm vay nợ nước ngoài, góp phần giảm rủi ro của danh mục nợ công.

Sản phẩm hàng hoá trên thị trường được phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và yêu cầu huy động vốn cho NSNN. Từ năm 2015, Kho bạc Nhà nước bắt đầu phát hành trái phiếu theo lô lớn, nâng cao chất lượng hàng hóa TPCP trên thị trường tài chính. Số lượng mã trái phiếu đã giảm từ mức khoảng 300 mã năm 2009 xuống còn 170 mã năm 2019, quy mô bình quân của các mã tăng khoảng 9 lần lên khoảng gần 6.000 tỷ đồng, giá trị giao dịch bình quân phiên hiện nay đạt khoảng gần 9.000 tỷ đồng/phiên, tăng khoảng 24 lần so với giá trị giao dịch bình quân phiên năm 2009. Sản phẩm phái sinh hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ bắt đầu hoạt động từ tháng 7/2019 bổ sung thêm cho nhà đầu tư một công cụ phòng vệ rủi ro.

Ngoài ra, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường TPCP đã được cải thiện theo hướng giảm tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng thương mại, tăng tỷ lệ nắm giữ của các tổ chức bảo hiểm và các tổ chức khác. Hệ thống nhà tạo lập thị trường được phát triển từ các thành viên đấu thầu đã từng bước đóng vai trò tạo thanh khoản trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP...    

Đại diện Bộ Tài chính cũng cho biết, trong các năm tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn 2021-2025, chủ trương  của Chính phủ là phát huy nội lực, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững đi đôi với đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh nhu cầu huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội tiếp tục ở mức cao, nguồn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài giảm, mục tiêu đặt ra là phát triển thị trường TPCP để làm nền tảng cho sự phát triển của thị trường trái phiếu và thị trường tài chính; TPCP trở thành công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả, có tính thanh khoản cao cho các NHTM, hệ thống bảo hiểm, các loại hình quỹ đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài.

Để đạt được mục tiêu này, Bộ sẽ chỉ đạo tiếp tục thực hiện Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1191 ngày 14/8/2017; Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/2/2019…

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950