Triển khai các gói hỗ trợ Covid-19: Cần lấy hiệu quả làm đầu

09:55 | 04/10/2021

Triển khai các gói hỗ trợ đến người dân, doanh nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 là cần thiết, song quan trọng nhất vẫn là hiệu quả, kịp thời và đúng đối tượng.

trien khai cac goi ho tro covid 19 can lay hieu qua lam dau “Bắt mạch, kê đơn” cho nền kinh tế phục hồi hậu Covid-19
trien khai cac goi ho tro covid 19 can lay hieu qua lam dau Trợ lực để doanh nghiệp vượt qua đại dịch
trien khai cac goi ho tro covid 19 can lay hieu qua lam dau Gói hỗ trợ lãi suất: Quan trọng là phải có cơ chế phù hợp

Thông tin tại hội nghị tham vấn về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế gắn với nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế giai đoạn 2022-2023 hôm 1/10/2021, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: Để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế, thời gian qua Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, bao gồm cả chính sách tài khóa và tiền tệ như giãn, giảm thuế, phí, lệ phí, khoanh nợ, giãn nợ, gia hạn và giảm lãi suất các khoản vay, miễn, giảm cước viễn thông, điện, nước, học phí... quy mô các gói hỗ trợ năm 2021 là khoảng 10,45 tỷ USD, tương đương 2,84% GDP.

Thực tế trong các chương trình hỗ trợ nói trên, “nặng gánh” nhất vẫn là ngành Ngân hàng. Ngay từ khi Covid-19 xuất hiện, ngành Ngân hàng đã luôn đi đầu trong triển khai các chủ trương, chính sách của Chính phủ nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Tâm thế của ngành Ngân hàng, như Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú khẳng định: Các giải pháp phải được triển khai kịp thời, nhất quán, quyết liệt, hiệu quả để chia sẻ với doanh nghiệp, cộng đồng…

trien khai cac goi ho tro covid 19 can lay hieu qua lam dau
Ảnh minh họa

Theo tổng hợp của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA): Lũy kế từ khi có dịch đến nay, các TCTD đã cắt giảm khoảng 30 nghìn tỷ đồng lợi nhuận, trong đó gần 27 nghìn tỷ đồng là để hỗ trợ lãi suất, 2 nghìn tỷ đồng để giảm phí.

Xin dẫn ra đây một chương trình cụ thể: Thực hiện Nghị quyết 63/NQ-CP của Chính phủ và chỉ đạo của NHNN, 16 NHTM đã đồng thuận giảm lãi suất cho vay áp dụng từ 15/7/2021 đến hết năm 2021 với tổng số tiền lãi giảm cho khách hàng ước tính 20.613 tỷ đồng. Ngoài cam kết chung này, 4 NHTM Nhà nước còn cam kết dành riêng 4.000 tỷ đồng (mỗi ngân hàng 1.000 tỷ đồng) để giảm lãi suất, giảm 100% các loại phí dịch vụ trong thời gian giãn cách cho khách hàng tại các địa phương đang thực hiện cách ly toàn xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg.

Cập nhật mới nhất, từ ngày 15/7 đến ngày 31/8/2021, 16 NHTM đã thực hiện giảm lãi suất cho vay theo cam kết với tổng số tiền lãi đã giảm cho khách hàng là 8.865 tỷ đồng. Như vậy, chỉ trong hơn một tháng triển khai các NHTM đã đạt 43,01% cam kết. Cùng với con số tổng hợp chung, thống kê của VNBA cũng “điểm mặt chỉ tên” cụ thể mức giảm, tiến độ thực hiện giảm lãi suất của từng NHTM.

Thông tin đáng chú ý tuần qua là trong phiên họp mới đây, Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ cân nhắc gói hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp trên tinh thần ngân hàng cho vay, Chính phủ dùng ngân sách hỗ trợ một phần lãi suất.

Theo tính toán của TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, nếu ngân sách Nhà nước bỏ ra số tiền 3.000 tỷ đồng với lãi suất hỗ trợ 3%/năm thì sẽ tương đương với mức dư nợ tín dụng khoảng 100.000 tỷ đồng. Theo TS. Cấn Văn Lực, để triển khai gói hỗ trợ này thì điều kiện tiên quyết là cần có trọng tâm, trọng điểm, nhắm tới một số đối tượng, địa bàn chịu tác động tiêu cực bởi dịch bệnh… Còn theo TS. Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký VNBA, khi xây dựng các gói hỗ trợ đặc biệt trong giai đoạn này cần phải có cơ chế đặc thù thì tính khả thi mới cao, việc giải ngân vốn mới thuận lợi, kịp thời…

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về gói tín dụng hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 là con trong gia đình có bố hoặc mẹ mất do dịch Covid-19 và chưa có máy tính để học tập trực tuyến.

Theo dự thảo, điều kiện vay vốn là tại thời điểm vay vốn, hộ gia đình có học sinh, sinh viên không có đủ máy tính, thiết bị phục vụ học tập trực tuyến và học sinh, sinh viên đó chưa được hưởng chính sách hỗ trợ máy tính, thiết bị phục vụ học tập trực tuyến dưới mọi hình thức. Mức cho vay được đề xuất tối đa là 7 triệu đồng/học sinh, sinh viên. Với mức cho vay tối đa này, dự kiến tổng nguồn vốn bố trí để cho vay là khoảng 3.500 tỷ đồng; Thời hạn cho vay dưới 12 tháng; lãi suất cho vay là 0%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 6,6%/năm bằng lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội hiện nay. Thời gian giải ngân từ ngày quyết định của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/3/2022.

Bộ Tài chính đề xuất nguồn kinh phí để triển khai chương trình hỗ trợ này sẽ lấy từ gói tín dụng 7.500 tỷ đồng từ nguồn vay tái cấp vốn của NHNN theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ mà Ngân hàng Chính sách xã hội đang triển khai để cho vay trả lương cho người lao động.

Triển khai các gói hỗ trợ đến người dân, doanh nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 là cần thiết, song quan trọng nhất vẫn là hiệu quả, kịp thời và đúng đối tượng. Tuy nhiên nói như TS. Cấn Văn Lực, không thể chỉ dựa vào một mình chính sách tiền tệ để giải quyết những khó khăn, thách thức hiện nay, mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ các giải pháp khác như các gói hỗ trợ tài khóa, an sinh xã hội và chiến lược, chính sách phục hồi sản xuất, kinh doanh an toàn.

Đặc biệt theo các chuyên gia, cần đẩy nhanh chiến lược tiêm vaccine, bởi chỉ có phủ nhanh, phủ rộng vaccine mới có thể giúp sản xuất phục hồi, từ đó mới hóa giải tận gốc những khó khăn, thách thức hiện tại.

An Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750