Triển vọng FDI tích cực, nhưng làm gì để tốt hơn?

08:56 | 15/10/2021

Dự báo trong năm nay và năm 2022, dòng vốn FDI vẫn duy trì được mức tăng nhẹ và trong trung hạn, có khả năng tăng mạnh nếu tính cạnh tranh và khả năng tiếp nhận của Việt Nam được nâng lên. Đây là nhận định của TS. Phan Hữu Thắng - nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi trả lời phỏng vấn với Thời báo Ngân hàng.

trien vong fdi tich cuc nhung lam gi de tot hon Khối ngoại vẫn dồn dập đầu tư ở tâm dịch
trien vong fdi tich cuc nhung lam gi de tot hon Nhà đầu tư nước ngoài vẫn vững tin ở Việt Nam
trien vong fdi tich cuc nhung lam gi de tot hon [Infographic] FDI 9 tháng năm 2021
trien vong fdi tich cuc nhung lam gi de tot hon
TS. Phan Hữu Thắng

Ông đánh giá thế nào về triển vọng thu hút FDI trong ngắn và trung hạn?

Tôi cho rằng cần dựa vào các yếu tố sau đây để dự báo: Thứ nhất, tính cạnh tranh và khả năng tiếp nhận đầu tư của Việt Nam (có tính cạnh tranh cao nếu chỉ dựa trên hệ thống luật pháp, chính sách, độ mở của nền kinh tế... là chưa đủ vì khi năng lực tiếp nhận của nền kinh tế, cụ thể như khả năng giải ngân FDI không cao thì về trung hạn nguồn vốn FDI đổ vào sẽ bị hạn chế); Thứ hai, sự biến động tăng - giảm của nguồn vốn FDI toàn cầu và tính cạnh tranh giữa các nước trong thu hút nguồn vốn FDI; Thứ ba, một số các yếu tố khác như tác động của thiên tai, dịch bệnh... bất ngờ ập đến mà đại dịch Covid-19 hiện nay là một ví dụ điển hình.

Nếu chỉ dựa vào 2 yếu tố đầu tiên và căn cứ vào thực tế kết quả thu hút FDI trong những năm gần đây, đặc biệt là kết quả của năm 2020 và 9 tháng đầu 2021, vẫn có thể dự báo khả năng thu hút FDI trong ngắn hạn 2021, 2022 và trung hạn đến 2023, 2024. Trong đó, nguồn vốn FDI đổ vào trong năm 2021 sẽ vẫn giữ được ở mức đã đạt được như năm 2020 với mức vốn FDI thực hiện vào khoảng 20-21 tỷ USD, tăng nhẹ so 2020; vốn FDI đăng ký năm 2021 dự kiến trên 30 tỷ USD, cũng tăng nhẹ khoảng 3-5% so năm 2020.

Bước sang năm 2022 hệ thống luật pháp chính sách về FDI đang tiếp tục được hoàn thiện và bắt đầu phát huy tác dụng. Nhưng do vẫn bị ảnh hưởng của đại dịch Covid diễn biến khó lường và có thể vẫn còn tác động xấu đến kinh tế - xã hội, nên kết quả thu hút FDI sẽ không có đột phá lớn, nhiều khả năng cũng chỉ đạt được mức tương đương 2021. Trong bối cảnh chung dòng vốn FDI toàn cầu đã giảm 40% trong 2020 và chưa có dấu hiệu phục hồi, thì các kết quả thu hút FDI trong các năm 2021, 2022 nếu đạt được như dự báo trên sẽ là thành công.

Về trung hạn, nếu các giải pháp phòng chống dịch và phát triển sản xuất, đời sống kinh tế - xã hội đã phù hợp thích ứng được gần như hoàn toàn với bối cảnh mới, lượng vốn FDI đăng ký cấp mới trong các năm 2023, 2024 có khả năng tăng trưởng mạnh, còn vốn FDI thực hiện cũng có tăng trưởng tốt hơn nhưng chỉ quanh mức tăng 15-20% năm, do khả năng tiếp nhận của nền kinh tế còn yếu. Cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thực thi chính sách, công nghiệp hỗ trợ… còn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng và đây cũng chính là những vấn đề cần tập trung giải quyết.

Vậy theo ông, về tiềm năng thì Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn?

Thực ra, cá nhân tôi không muốn dùng 2 chữ “tiềm năng” vì dễ dẫn đến sự chủ quan, mà nên dùng chữ cụm từ “có điều kiện” để nói về sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN). Việt Nam có những điều kiện đáp ứng được đòi hỏi của các NĐTNN khi lựa chọn địa bàn đến đầu tư: Chính trị, xã hội ổn định; Lực lượng lao động trẻ, cần cù, ham học hỏi; Hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới với nhiều FTA thế hệ mới; Nền kinh tế mới nổi năng động, tăng trưởng nhanh và ngay cả trong đại dịch Covid-19 vẫn nằm trong số ít các nền kinh tế có được tăng trưởng tốt…

Nhưng khi nhìn ra thế giới, trước hết là các quốc gia quanh Việt Nam cũng thấy: Trung Quốc là thị trường tiềm năng của tất cả các NĐTNN trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế. Môi trường đầu tư của một số nước ASEAN có tính cạnh tranh cao hơn Việt Nam. Các nước nói trên nổi trội hơn Việt Nam không chỉ về cơ sở hạ tầng mà còn có nền công nghiệp hỗ trợ phát triển (nhất là Trung Quốc). Nguồn lực lao động có tay nghề cao ở các nước đó cũng phong phú hơn trong khi Việt Nam còn rất thiếu.

trien vong fdi tich cuc nhung lam gi de tot hon
Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá, Việt Nam là điểm đến đầu tư đầy hấp dẫn

Bên cạnh đó, Việt Nam có định hướng chính sách tốt nhưng khâu tổ chức thực hiện còn yếu - điều này dù được chỉ ra nhiều năm qua nhưng chưa khắc phục được hết. Hiện tượng “trên nóng dưới lạnh” trong thực thi chính sách, do thiếu và sợ trách nhiệm; sự chồng chéo giữa các quy định tại các văn bản pháp quy vẫn đang tiếp tục được rà soát để sửa đổi;… cho thấy Việt Nam chưa thật sự là một địa bàn tiềm năng mà NĐTNN nào cũng muốn đến đầu tư. Vì vậy, chúng ta cần nhìn thẳng vào các tồn tại đó để khắc phục, xây dựng Việt Nam trở thành thị trường không chỉ “có điều kiện” mà thực sự “tiềm năng” đối với các NĐT. Đây chính là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.

Theo ông, định hướng giải pháp để hóa giải được các khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra với khu vực các doanh nghiệp FDI là gì?

Một cách tổng thể, các giải pháp cần làm sao vừa tiếp tục phòng chống dịch thành công, vừa phục hồi và phát triển sản xuất, không làm dứt gãy chuỗi cung ứng thêm nữa để một mặt giữ chân được các NĐTNN hiện có và tới đây thu hút thêm được các NĐTNN mới. Trong đó, thực hiện tốt các giải pháp tại các chỉ đạo, chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ gần đây (như chỉ thị 27/CT-TTg ngày 3/10/2021 về phục hồi sản xuất tại các khu công nghiệp; Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10 Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”…) sẽ hỗ trợ được cộng đồng doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp FDI nói riêng duy trì, phát triển sản xuất, tránh làm đứt gãy cuỗi cung ứng sẽ góp phần củng cố lòng tin của các NĐTNN.

Dù cần thêm các số liệu thống kê chi tiết và chuyên biệt hơn để khẳng định chắc chắn nhưng tôi cho rằng, thiếu hụt lao động - nguồn nhân lực người lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp FDI - có thể là một trong những thách lớn nhất hiện nay, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế mở trở lại, các hoạt động sản xuất kinh doanh đang sẵn sàng trở lại trạng thái bình thường. Nên cùng với những thách thức, khó khăn đã xuất hiện trong thời gian qua, vấn đề thiếu hụt lao động cũng cần nhanh chóng được giải quyết.

Xin cảm ơn ông!

Bản tin cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 10/2021 vừa phát hành của WB Việt Nam nhận định, FDI đăng ký tháng 9/2021 tăng 26,1% so với tháng trước - một sự phục hồi mạnh mẽ trong bối cảnh khủng hoảng, cho thấy các NĐTNN tiếp tục có lòng tin đối với nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn.

Hầu hết các chuyên gia, đại diện các tổ chức quốc tế, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam đều có góc nhìn lạc quan về triển vọng của Việt Nam dù kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn trong ngắn hạn. Các chỉ số vĩ mô cơ bản vẫn vững chắc; tốc độ tiêm vaccine được đẩy nhanh; lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 ngày càng rõ ràng và nhất quán hơn trên toàn quốc… sẽ là những yếu tố giúp gia tăng hơn niềm tin của các NĐTNN.

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Tags: fdi đầu ư

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050