Triển vọng tích cực với cổ phiếu ngân hàng những tháng cuối năm

13:23 | 07/07/2022

Các chuyên gia kinh tế cho đánh giá, 6 tháng cuối năm 2022, nhóm ngành Ngân hàng sẽ có sự bứt phá trở lại khi kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm vẫn rất khả quan, trong khi đó, P/E của ngành này đang ở khoảng 10-11 lần và chỉ số P/B nằm ở mức 1,5 lần giá trị sổ sách của ngành ngân hàng, mức hấp dẫn dành cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, kỳ vọng nới “van” tín dụng trong 6 tháng cuối năm cũng sẽ giúp khơi thông dòng vốn cho các doanh nghiệp, nền kinh tế, qua đó thúc đẩy thị trường tăng trưởng.

Định giá trên sàn chưa phản ánh đúng

Ông Trần Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Công ty CP Chứng khoán Smart Invest (AAS) cho biết, ngành Ngân hàng trong suốt giai đoạn vừa qua đã đóng hai vai trò.

Thứ nhất là vẫn đảm bảo được khả năng tăng trưởng của toàn ngành và thứ hai là vẫn đảm bảo hỗ trợ DN cũng như hỗ trợ nền kinh tế trong những điều kiện khó khăn về dịch bệnh.

Đến 6 tháng đầu năm 2022 khi dịch bệnh đã chìm lắng, ngành Ngân hàng cũng đối mặt với một số những khó khăn nhất định. Chính vì những yếu tố kinh tế vĩ mô như: lạm phát; biến động giá cả trên thị trường thế giới, đặc biệt là giá dầu có thể tác động đến chỉ số lạm phát của nước ta khiến công tác điều hành của NHNN có phần thận trọng nhất định.

“Tốc độ tăng trưởng tín dụng đang bị hạn chế ở mức trần trong 6 tháng đầu năm là 7%. Song cũng có những tín hiệu tích cực là khi lạm phát và chỉ số giá của các nước phát triển đang bắt đầu cho thấy dấu hiệu chững lại thì NHNN sẽ có nhiều dư địa hơn để ngành tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng cuối năm 2022”, ông Tuấn nhìn nhận.

trien vong tich cuc voi co phieu ngan hang nhung thang cuoi nam

Đồng tình với quan điểm này, bà Đinh Thị Tố Uyên, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) cho rằng, đúng là ngành Ngân hàng đang phải đứng hai vai, nhưng trong suốt giai đoạn dịch bệnh có sự chỉ đạo sát sao của NHNN để ngành Ngân hàng có thể trợ giúp được cho các DN như: giãn nợ, giảm lãi suất, giảm phí và hỗ trợ cho cả khách hàng cá nhân. Riêng tại MSB, riêng từ tháng 7/2021 đến 31/12/2021, giá trị lãi giảm cho khách hàng lên đến 185 tỷ đồng.

“Trong dịch, ngay chính ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng, nhưng chúng tôi nhìn thấy cơ trong nguy để ngành phát triển. Số lượng giao dịch online của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay tăng gấp 20 lần so với những giai đoạn trước dịch.

Người dân Việt Nam thay vì dùng tiền mặt đã dùng các giao dịch chuyển khoản ngân hàng và tài chính khác. Đây là cơ hội các ngân hàng có những sản phẩm số ra mắt đúng thời điểm để khách hàng có thể sử dụng. Chúng tôi trong giai đoạn đó cũng có những sản phẩm số ra đời. 2 năm qua, mặc dù khó khăn, nhưng đang đi những bước tăng trưởng rất tốt với mức tăng trưởng kép về doanh thu lên tới 136%”, bà Uyên cho hay.

Nhiều triển vọng tích cực

Bình luận về định giá của ngành bị giảm đáng kể trong thời gian qua, dù thực tế ngành vẫn đang có sự tăng trưởng tốt… ông Trần Minh Tuấn cho biết, TTCK đã tăng trưởng rất mạnh trong năm 2020 và năm 2021, không chỉ tăng trưởng về chỉ số mà giá cổ phiếu của các DN cũng tăng rất mạnh, đặc biệt là cổ phiếu ngành Ngân hàng. Đến 6 tháng đầu năm 2022, việc FED tăng lãi suất; ảnh hưởng của chiến tranh; ảnh hưởng của lạm phát trên toàn cầu… khiến thị trường có những mức sụt giảm rất đáng kể.

Trong dòng chảy đi xuống đó, tất cả các ngành, các cổ phiếu đều bị tác động. Có những cổ phiếu sụt giảm đến 60%-70% giá trị từ đỉnh của năm 2021 và ngành Ngân hàng cũng không tránh khỏi mức sụt giảm chung của toàn bộ thị trường. Tuy nhiên, mức sụt giảm giá cổ phiếu của ngành Ngân hàng không lớn hơn so với những ngành khác, chỉ rơi vào khoảng từ 30-40%.

“Giá giảm 30%-40% so với mức đỉnh của giai đoạn trước đã đưa chỉ số P/E chung của ngành về từ 10-11 lần và chỉ số P/B của riêng ngành Ngân hàng đang nằm ở mức khoảng 1,5 lần giá trị sổ sách. Đây là một mức tương đối hấp dẫn cho các NĐT có thể nghiên cứu xem xét những ngân hàng có năng lực tăng trưởng tốt để đầu tư dài hạn”, ông Trần Minh Tuấn cho biết.

Dưới góc nhìn của mình, bà Đinh Thị Tố Uyên thấy rằng, nếu chỉ số P/B là 1,5 và chỉ số P/E chung của toàn ngành hiện nay cũng chỉ 10-11 lần là đang khá hấp dẫn cho NĐT, đặc biệt là các NĐT dài hạn. Nhưng không có nghĩa rằng ngân hàng nào đầu tư vào cũng tốt mà phụ thuộc vào khả năng tăng trưởng và mức độ phát triển an toàn, bền vững của từng ngân hàng.

NĐT có thể xem xét thêm các tiêu chí khác như: tỷ lệ nợ xấu; lạm phát, hoặc một số chính sách có thể thay đổi khiến ngành Ngân hàng đôi lúc gặp khó khăn. Nhưng thị trường ngân hàng với tỷ lệ người dùng các dịch vụ đang thấp và làn sóng dịch chuyển rất lớn, từ việc sử dụng tiền mặt sang sử dụng các giao dịch ngân hàng và tài chính số… sẽ là cơ hội cho bất cứ một ngân hàng nào có khả năng để bứt phá, đặc biệt là những ngân hàng có khả năng phát triển, đón làn sóng lao động trẻ và dịch chuyển lên kênh số.

Đánh giá triển vọng ngành ngân hàng nửa cuối năm 2022, ông Trần Minh Tuấn nhìn nhận: sẽ có một đợt mở “van” tín dụng vào giữa tháng 7 và sẽ đưa tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt mức 14% cho toàn ngành như mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, NHNN hàng năm vẫn có đánh giá lại và thường đến tháng 10 sẽ có một mức nới room tín dụng cho một số ngân hàng đạt được những chỉ tiêu mà NHNN đề ra và họ có mong muốn.

“Theo tôi, nhóm ngành Ngân hàng vẫn là nhóm ngành thu hút dòng tiền rất lớn trên thị trường. Thanh khoản của nhóm ngành này luôn lớn nhất, có thể chiếm 30-40% giá trị giao dịch của toàn thị trường. Chính vì vậy, việc tăng trưởng hay sụt giảm về giá của nhóm ngành Ngân hàng sẽ tác động rất lớn đến việc thu hút dòng tiền về thị trường. Vì vậy nếu như nhóm ngành Ngân hàng thu hút lại được dòng tiền, thì dòng tiền chung vào thị trường cũng sẽ được kích hoạt”, ông Tuấn nhận định.

Bà Đinh Thị Tố Uyên thì cho rằng, mở room tín dụng sẽ là khơi thông dòng vốn và sẽ chảy vào hoạt động sản xuất. Các ngân hàng sẽ xem xét đến các yếu tố để cấp vốn cho những DN thực sự là phát triển bền vững. Các DN có được sự trợ giúp về mặt tín dụng khi có nhu cầu phát triển sẽ là một lực đẩy cho cho các DN có nhiều dòng vốn vào sản xuất, từ đó hoạt động kinh doanh tốt lên. Nhờ vậy chính nguồn thu nhập và nguồn thu của ngân hàng cũng sẽ tiếp tục tốt lên, góp phần thúc đẩy giá cổ phiếu ngành Ngân hàng tích cực hơn. Với vai trò “dẫn dắt” của ngành qua đó cũng sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn thị trường.

Ngoài ra, với việc khơi thông dòng vốn cũng sẽ tạo thêm được công ăn việc làm và thu nhập thêm, tạo ra độ tin tưởng nhất định cho toàn thị trường, bao gồm cả khách hàng DN và cá nhân.

“Khi người ta cảm thấy tin tưởng vào việc thị trường tốt lên thì sẽ chi dùng nhiều hơn, đầu tư nhiều hơn, bớt thận trọng và trú ẩn ở những kênh đầu tư an toàn khác ít sinh lời. Lúc đó tôi nghĩ thị trường cũng sẽ có được những đà đẩy nhất định”, bà Uyên nhìn nhận.

Hương Ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650