Trông chờ giá thức ăn chăn nuôi giảm

16:02 | 23/09/2022

Chỉ khi chuỗi liên kết giữa người chăn nuôi, nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và cả cơ sở giết mổ hoạt động tốt mới tạo ra được nguồn cung và giá cả ổn định...

Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng 8 đợt do giá nguyên liệu tăng mạnh và hiện giá thức ăn chăn nuôi đã cao hơn cùng kỳ năm ngoái đến 40%.

Tuy nhiên từ hơn 1 tháng qua, giá nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trên thị trường thế giới cũng như trong nước đã hạ nhiệt. Giá ngô trên thế giới giảm hơn 20% so mức đỉnh hồi tháng 5/2022; giá mì cũng giảm mạnh về tương đương mức giá đầu năm 2022. Trong khi đó, cám gạo trong nước sau khi tăng mạnh lên hơn 10.000 đồng/kg hiện cũng đã quay đầu giảm còn khoảng 8.000 đồng/kg. Thế nhưng, giá thức ăn chăn nuôi trong nước đến thời điểm này vẫn “không chịu" hạ nhiệt theo đà giảm giá nguyên liệu.

trong cho gia thuc an chan nuoi giam
Ảnh minh họa

Một nông dân ở Đồng Nai cho biết, do giá thức ăn quá cao nên giá thành thịt lợn đã lên đến 60.000 đồng/kg. Chính vì vậy, người chăn nuôi vẫn mong chờ giá thức ăn chăn nuôi “hạ nhiệt” khi giá đầu vào nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đang có chiều hướng giảm như hiện nay.

Thế nhưng, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cho hay, có thể phải chờ đến hết năm nay, giá thức ăn chăn nuôi trong nước mới đi xuống được. Hiện mặc dù giá một số nguyên liệu như cám gạo, bã đậu nành đã giảm nhưng chưa thể giúp chăn nuôi giảm giá sản phẩm thức ăn chăn nuôi. Do trước đó, giá nguyên liệu đồng loạt tăng cao trong khi nhà máy sản xuất chỉ tăng giá sản phẩm ở mức thấp hơn đà tăng giá của nguyên liệu đầu vào.

Giải thích về tình trạng này, ông Phạm Đức Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho biết, hiện mới chỉ có một số nguyên liệu giảm giá, còn trong rổ nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi có đến hàng chục sản phẩm. Chưa kể, doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện còn tồn kho nguồn nguyên liệu giá cao đã nhập từ trước đó, đủ sản xuất đến cuối năm. Bởi vậy, giá thành sản xuất trong vài tháng tới vẫn sẽ cao và cần độ trễ vài tháng để giảm giá sản phẩm.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, ngành chăn nuôi cần hợp tác, phát triển mô hình chăn nuôi lợn theo chuỗi giá trị từ giống, thức ăn chăn nuôi, tổ chức sản xuất đến giết mổ, chế biến, phân phối. Trong đó, cần chú trọng công nghệ, đổi mới quy trình, tối ưu hóa tài nguyên nhằm giảm chi phí; phát triển trên cơ sở cân đối cung - cầu. Hiện nay, Chính phủ đang nỗ lực kéo giảm vật giá thực phẩm tiêu dùng, trong đó kiểm soát chặt khâu trung gian, phân phối, vận chuyển… Riêng khâu sản xuất, hiện nay có những khó khăn chưa thể giải quyết ngay được, đó chính là giảm chi phí sản xuất, và hơn thế thức ăn chăn nuôi phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu, do đó rất khó kéo giảm được giá thức ăn chăn nuôi từ đây đến cuối năm

Về vấn đề này này, ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cho biết, trên thế giới, người chăn nuôi thường liên kết, phối hợp với nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và cả cơ sở giết mổ. Các bên cam kết bảo đảm về số lượng thu mua, giá cả cố định cả năm. “Mà để làm được như vậy cần sự vào cuộc của cơ quan quản lý, có chế tài cụ thể để ràng buộc trách nhiệm giữa các bên. Chỉ khi chuỗi liên kết này hoạt động tốt mới tạo ra được nguồn cung và giá cả ổn định", ông Ngọc đề xuất.

Lâm Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.560 23.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.580 23.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.560 23.860 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.840 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.560 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.580 23.975 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.600
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.600
66.400
Vàng SJC 5c
65.600
66.420
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
50.200
50.800