Trọng trách mới của các ngân hàng trung ương

08:34 | 12/07/2021

Dường như các NHTW trên thế giới đang quay trở lại với sứ mệnh ban đầu của họ cách đây hơn một thế kỷ, đó là tập trung vào nhiệm vụ thúc đẩy kinh tế hơn là kiểm soát lạm phát.

Hỗ trợ phát triển bền vững

Các cuộc khủng hoảng liên tiếp diễn ra đã buộc các NHTW trên thế giới phải gánh thêm trọng trách mới là hỗ trợ tăng trưởng. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng rút lui, nhiều nhà hoạch định chính sách vẫn ủng hộ việc duy trì vai trò hỗ trợ của mình trong việc định hình nền kinh tế và thậm chí còn mở rộng hơn nữa để thực hiện các mục tiêu xã hội khác như chống biến đổi khí hậu và giải quyết tình trạng bất bình đẳng.

Vai trò này càng nổi bật nhờ lạm phát toàn cầu đứng ở mức thấp trong những năm gần đây. Hiện tại, các NHTW có vẻ hài lòng về quan hệ đối tác của họ với các chính phủ chi tiêu lớn và các mục tiêu phát triển.

trong trach moi cua cac ngan hang trung uong
Fed đã triển khai nhiều biện pháp kích thích tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế

Các nhà phân tích của Deutsche Bank đã ghi nhận một sự thay đổi lớn khi đề cập đến “bất bình đẳng” trong các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo NHTW, thay vì tập trung cho lạm phát như trước đây. “Những năm gần đây đã chứng kiến sự tham gia ngày càng mạnh của các NHTW vào nhiều vấn đề khác bao gồm chính sách tài khóa, công bằng xã hội, chủng tộc, vấn đề giới tính, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng”, các nhà phân tích của Deutsche Bank cho biết.

Tại khu vực đồng euro, ECB đã “nối gót” Fed và BOJ khi điều chỉnh quan điểm chính sách của mình là chấp nhận cho lạm phát vượt quá mức mục tiêu trong một thời gian. Họ cũng đưa biến đổi khí hậu vào khuôn khổ chính sách của mình, vài ngày trước khi BOJ chuẩn bị công bố sáng kiến cho vay tập trung vào khí hậu. Chủ tịch ECB Christine Lagarde đã ca ngợi mối quan hệ “cộng sinh” giữa chính sách tiền tệ và tài khóa trong cuộc khủng hoảng, khi 19 chính phủ trong khối đã chi số tiền kỷ lục để bảo vệ các doanh nghiệp và người lao động khỏi thảm họa đại dịch.

Chủ tịch Fed Jerome Powell cũng là một người ủng hộ đáng tin cậy cho các nhà lập pháp Mỹ, những người muốn tăng cường hỗ trợ tài chính trong thời kỳ đại dịch. Chi phí vay mượn đã được giảm xuống ngay cả khi chính phủ triển khai quy mô chi tiêu khẩn cấp chưa từng có, nhờ vào việc mua tài sản khổng lồ của Fed. Các chương trình tín dụng khẩn cấp năm 2020 của Fed đã vượt xa mức hỗ trợ của họ trong cuộc khủng hoảng năm 2008 và được mở rộng đến các doanh nghiệp…

“Chúng ta đang rời xa nền kinh tế chính trị của những năm 1980 và 1990 vốn được đánh giá cao khi giao quyền cho các NHTW để ngăn chặn lạm phát”, Sarah Binder - một thành viên cấp cao của Viện Brookings cho biết. “Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và đại dịch, cũng như các yêu cầu chính trị về sự hỗ trợ của các NHTW, họ đã trở lại nguồn gốc của mình - chống lại khủng hoảng và giúp khôi phục tăng trưởng kinh tế”.

Hài hòa các mục tiêu

Mặc dù động thái hiện tại của các NHTW cũng có những mặt tích cực như tăng trưởng việc làm bền vững tốt hơn theo thời gian cùng với những tiến bộ lớn hơn trong việc phát triển bền vững. Nhưng nhiều ý kiến cảnh báo, điều đó có thể khiến các nhà hoạch định chính sách tiền tệ khó thắt chặt chính sách hơn khi đối mặt với lạm phát leo thang hoặc rủi ro bong bóng tài sản.

Taimur Baig - Nhà kinh tế trưởng tại Singapore của DBS Bank, người trước đây từng làm việc tại IMF cũng tỏ ra lo ngại về những gì sẽ xảy ra khi đến thời điểm thu hồi lại sự mở rộng tiền tệ quá mức trong thời đại đại dịch. Theo ông, khi các NHTW tiến “sâu hơn vào lĩnh vực tài khóa”, sẽ có nguy cơ họ bị “tê liệt nếu họ lo sợ những tác động từ thị trường và chính trị từ việc bán trái phiếu”.

Chẳng hạn như tại Hàn Quốc, sau khi NHTW Hàn Quốc chuẩn bị tăng lãi suất trong bối cảnh chính phủ Hàn Quốc có kế hoạch tiếp tục duy trì kích thích tài khóa, Bộ trưởng Tài chính Hong Nam-ki đã tổ chức một cuộc họp bất thường với Thống đốc Lee Ju-yeol. Cuộc họp sáng ngày 2/7 đã đưa ra một thỏa thuận rằng các chính sách tài khóa và tiền tệ nên hỗ trợ cho nhau...

Thống đốc NHTW Thái Lan Sethaput Suthiwartnarueput cũng cho biết trong một cuộc phỏng vấn ngày 24/6 rằng: “Luôn luôn có thách thức về việc đạt được sự cân bằng phù hợp giữa hợp tác, phối hợp và thiếu độc lập”. Ngay cả với Fed, chính quyền Biden cũng đang thảo luận về việc sử dụng các vị trí còn trống trong Hội đồng Thống đốc để định hình lại Fed cho phù hợp hơn với các ưu tiên của chính quyền.

Tại Indonesia, Tổng thống Joko Widodo cũng cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 4 rằng ông ủng hộ luật pháp sẽ mở rộng nhiệm vụ của NHTW bao gồm tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế bền vững. Thống đốc NHTW Indonesia Perry Warjiyo cho biết trong một cuộc họp tháng trước, NHTW đã thể hiện vai trò trong tăng trưởng dài hạn mặc dù nó không nằm trong nhiệm vụ chính thức của NHTW.

Tuy nhiên theo Paul Tucke – Cựu Phó Thống đốc NHTW Anh và hiện đang là một thành viên cấp cao của Đại học Harvard: “Hợp tác tài chính-tiền tệ không thể đi đến cái giá phải trả (của các NHTW) là “mất uy tín đối với sự ổn định giá cả và ổn định tài chính.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000