Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại

08:01 | 16/07/2021

Gần đúng như dự báo của các chuyên gia, kinh tế Trung Quốc vẫn đang tăng trưởng nhưng tốc độ đã chậm lại trong quý II vừa qua do đối mặt với giá hàng hóa tăng cao và sự gián đoạn chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến sản xuất.

Cơ quan Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết, GDP quý II tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trưởng này chậm hơn đáng kể so với mức tăng 18,3% của quý I (so với cùng kỳ năm ngoái – thời điểm kinh tế nước ngày chịu sự suy giảm mạnh khi đại dịch Covid-19 bùng phát). Tốc độ tăng trưởng quý II chỉ thấp hơn một chút so với dự kiến của các chuyên gia. Các nhà phân tích được Reuters thăm dò dự đoán rằng nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 8,1% vừa qua.

trung quoc dang tang truong cham lai
Ảnh minh họa

Thực tế nền kinh tế Trung Quốc đã xuất hiện một số dấu hiệu đáng lo ngại trong những tháng gần đây. Giá hàng hóa đầu vào sản xuất tăng cao kỷ lục đã đẩy chỉ số giá sản xuất (PPI) lên mức cao nhất trong hơn một thập kỷ qua. Trong khi đó, gián đoạn chuỗi cung ứng do tồn đọng hàng hóa và tình trạng thiếu điện đã kìm hãm hoạt động sản xuất của nhà máy. Bên cạnh đó, tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ cũng chậm lại do đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 ở miền nam Trung Quốc và các biện pháp ngăn chặn tiếp theo đã hạn chế hoạt động kinh doanh và tiêu dùng.

Những lo ngại về tăng trưởng yếu hơn đã tăng lên vào tuần trước, sau khi quyết định cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tài chính chính thức có hiệu lực từ 15/7. Động thái giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống 50 điểm cơ bản đã gây ngạc nhiên cho các nhà quan sát và họ cho rằng đó là dấu hiệu cho thấy sự phục hồi kinh tế có thể đang chững lại. Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBoC) cho biết, đây là động thái cắt giảm lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020 nhằm khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn, vì các doanh nghiệp nhỏ đang gặp khó khăn do giá hàng hóa tăng cao. Cũng trong ngày 15/7, PBoC đã giữ nguyên lãi suất đối với khoản vay trung hạn (MLF) trị giá 100 tỷ Nhân dân tệ (15,46 tỷ USD) kỳ hạn một năm đáo hạn ngày 15/7 nhằm tăng thanh khoản hệ thống.

Nhưng ngay cả khi sự phục hồi của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang yếu đi thì Trung Quốc vẫn đang trên đà vượt mục tiêu tăng trưởng hơn 6% trong năm nay. Dữ liệu hôm thứ Năm cho thấy doanh số bán lẻ đã tăng 12% trong tháng 6 so với cùng năm trước, trong khi sản xuất công nghiệp tăng 8,3%. Đầu tuần này, Trung Quốc đã công bố một số tin tốt về thương mại. Theo đó xuất khẩu tăng hơn 30% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm 2019, theo số liệu của cơ quan hải quan.

Theo Ting Lu, chuyên gia kinh tế trưởng về Trung Quốc của Nomura, số liệu xuất khẩu mạnh mẽ đã giúp giảm bớt lo ngại của thị trường về "sự suy giảm tăng trưởng sắp xảy ra". Tuy nhiên, chuyên gia này nhận định sự phục hồi của xuất khẩu này có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn vì một phần được thúc đẩy bởi việc giải phóng hàng tồn đọng tại một số cảng lớn của Nam Trung Quốc. Trước khi các số liệu chính thức được công bố, ông Ting Lu đã dự đoán GDP của Trung Quốc sẽ tăng 8,1% trong quý II, trước khi chậm lại lần lượt là 6,4% và 5,3% trong hai quý tiếp theo.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800