Trung Quốc hấp dẫn doanh nghiệp Mỹ nhờ thị trường lớn

18:45 | 04/05/2012

Trong hơn hai thập kỷ qua, lao động giá rẻ đã trở thành sức hút chính đối với các doanh nghiệp Mỹ muốn đầu tư vào Trung Quốc. Tuy nhiên hiện nay, thị trường hơn 1 tỷ dân với sức mua dồi dào mới chính là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư Mỹ.

Đóng đô tại thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), Caterpillar lúc nào cũng bận rộn với hàng nghìn kỹ thuật viên có kỹ năng làm việc tại các dây chuyền lắp ráp ở một nhà máy của nhà sản xuất thiết bị xây dựng hàng đầu Mỹ. Nhà máy này có thể nhận phần lớn các phụ tùng cần thiết từ các nhà cung cấp địa phương, với các doanh nghiệp hậu cần địa phương giúp vận chuyển các sản phẩm của nhà máy tới bất kỳ nơi nào ở Trung Quốc chỉ trong vài ngày. Với một phân xưởng mới đang được xây dựng và nhiều kế hoạch mở rộng đang được thực hiện, nhà máy dự kiến sẽ phát triển thành một trung tâm sản xuất máy xúc lớn nhất của Caterpillar ở châu Á vào năm 2014.

Ảnh: MH
Với hơn 1 tỷ dân, Trung Quốc là một trong những thị trường lớn nhất thế giới. (Ảnh: MH)

Ông Doug Oberhelman - Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Caterpillar cho biết, "Mặc dù chi phí gia tăng, nhưng Caterpillar sẽ tiếp tục đầu tư đáng kể vào Trung Quốc. Chi phí lao động tăng chỉ là thêm một khó khăn mà chúng tôi phải vượt qua chứ không phải là tất cả. Tôi cảm thấy vui mừng với những thành quả kinh doanh ở Trung Quốc do chúng tôi có một mô hình kinh doanh hỗ trợ chúng tôi rất tốt ở đây. Đối với hoạt động kinh doanh của chúng tôi, thị trường ở Trung Quốc rất lớn và chúng tôi có nhiều không gian để phát triển. Vì vậy, tôi có ý định đầu tư  lớn vào Trung Quốc".

Tham gia thị trường Trung Quốc vào những năm 70 của Thế kỷ XX, Caterpillar hiện có 17 cơ sở sản xuất, 4 trung tâm nghiên cứu và phát triển và 3 trung tâm hậu cần và phụ tùng ở đất nước rộng lớn này. Trung Quốc đã trở thành thị trường quan trọng thứ hai của Caterpillar sau Mỹ. Trong quý cuối cùng của năm 2011, khoảng 1/4 doanh thu ở châu Á - Thái Bình Dương của Caterpillar đến từ thị trường Trung Quốc.

Coach International Retail - công ty sản xuất đồ da của Mỹ, mới đây cũng tiết lộ rằng họ có kế hoạch mở 30 cửa hàng mới mỗi năm ở Trung Quốc trong vòng 3 năm tới nhằm mở rộng thị phần từ 6% năm 2011 lên 10% vào năm 2014. Victor Luis - Chủ tịch của Coach cho biết, công ty dự đoán thị trường phụ kiện của Trung Quốc trên thị trường toàn cầu sẽ mở rộng, tăng từ 10% năm 2011 lên 20% năm 2016.

Bất chấp chi phí lao động gia tăng, các công ty đa quốc gia của Mỹ có ý định tăng đầu tư vào Trung Quốc một phần cũng để khai thác thị trường tiêu dùng khổng lồ của quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Theo báo cáo công bố mới đây của Phòng Thương mại Mỹ ở Thượng Hải, 2/3 số công ty Mỹ được khảo sát nói rằng, mức tăng doanh thu của họ ở Trung Quốc cao hơn doanh thu của họ trên toàn thế giới. Khoảng 72% số công ty được khảo sát đã tăng đầu tư vào Trung Quốc năm 2011, trong khi 77% có kế hoạch mở rộng đầu tư năm 2012, điều này cho thấy lòng tin của họ đối với sự tăng trưởng của Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc - đã chậm lại, xuống còn 8,1% gần mức thấp 3 năm qua trong quý I năm nay - dự kiến sẽ hồi phục trong các quý tiếp theo.

John Quelch - Hiệu trưởng kiêm Phó chủ tịch Trường kinh doanh quốc tế Trung Quốc châu Âu cho rằng, chi phí lao động cao có thể không hấp dẫn các nhà chế tạo hàng giá rẻ, nhưng các doanh nghiệp Mỹ sẽ cảm thấy thuận lợi hơn và có khả năng kiếm lời hơn khi tiến hành hoạt động chế tạo tại Trung Quốc.

Những nhận định trên đã được chứng minh qua số liệu mới đây, mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc đã giảm 2,8% trong quý I năm nay so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng FDI từ Mỹ vẫn tăng 10,1% trong giai đoạn này.

Ngoài thị trường lớn theo ông Manoj Vohra - nhà phân tích châu Á của Bộ phận phân tích và tư vấn kinh tế (Ecoromist Intlligenc Unit) thuộc Ecoromist Trung Quốc vẫn vượt trội so với một số nước châu Á về khả năng sản xuất công nghiệp, quy mô lao động, trình độ kỹ năng và hậu cần. Ở một vài nước, chi phí lao động thấp nhưng hoạt động hậu cần và mức tăng năng suất hàng năm lại kém hơn ở Trung Quốc. Trong khi đó, ông Vohra cho rằng lương cao có nghĩa sức mua sẽ lớn hơn, từ đó có thể giúp người dân tiêu dùng nhiều hơn. Ông nhấn mạnh nhiều công ty nước ngoài chọn ở lại Trung Quốc vì họ dự kiến nền kinh tế này sẽ vượt Nhật Bản trở thành thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới vào năm 2015.

Giám đốc điều hành Luo Jun của Hiệp hội chế tạo châu Á trước đó nhận xét mặc dù chi phí lao động đã tăng đáng kể ở Trung Quốc trong những năm gần đây, nhưng vẫn chỉ bằng khoảng 1/10 mức trung bình ở Mỹ.

Hải Yến

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.310 23.610 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.270 23.630 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.590 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.260 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.309 23.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.940 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.350 23.640 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
54.600
55.600
Vàng nữ trang 9999
54.400
55.200