Trung Quốc nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng

08:10 | 25/05/2022

Truyền hình nhà nước Trung Quốc dẫn lời nội các nước này cho biết, Trung Quốc sẽ mở rộng các khoản miễn giảm thuế, hoãn thanh toán an sinh xã hội, đi kèm với việc triển khai các dự án đầu tư mới và thực hiện nhiều giải pháp khác để hỗ trợ nền kinh tế.

Tăng cường kích thích

Kinh tế Trung Quốc đang chịu ảnh hưởng nặng nền từ sự bùng phát làn sóng dịch Covid-19 mới. Theo đó các biện pháp đóng cửa và kiểm soát dịch nghiêm ngặt đã làm gián đoạn cung ứng và ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và tiêu dùng. “Hiện tại, áp lực đi xuống đối với nền kinh tế tiếp tục gia tăng và rất khó khăn cho nhiều thực thể thị trường”, nội các Trung Quốc được trích dẫn cho biết sau một cuộc họp thường kỳ.

Nhiều nhà kinh tế khu vực tư nhân dự báo, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sẽ thu hẹp trong quý này so với một năm trước đó, so với mức tăng trưởng 4,8% của quý đầu tiên. Nhiều chỉ số kinh tế, từ tín dụng, sản lượng công nghiệp hay doanh số bán lẻ, đều cho thấy các biện pháp kiểm soát dịch nghiêm ngặt đã gây ra thiệt hại nặng nề.

trung quoc no luc thuc day tang truong
PBoC vừa cắt giảm mạnh lãi suất LPR 5 năm để hỗ trợ thị trường bất động sản nước này

Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã cam kết tăng cường hỗ trợ cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nội các nước này cho biết, Trung Quốc đặt mục tiêu đưa các hoạt động kinh tế của mình trở lại bình thường với một loạt các biện pháp có mục tiêu, mạnh mẽ và hiệu quả.

Một trong những giải pháp mới là Chính phủ sẽ mở rộng miễn giảm thuế cho nhiều lĩnh vực và nâng mức cắt giảm thuế hàng năm tổng cộng hơn 140 tỷ nhân dân tệ (21 tỷ USD) lên 2,64 nghìn tỷ nhân dân tệ. Truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết, nước này cũng sẽ giảm một số khoản thuế mua ô tô chở khách khoảng 60 tỷ nhân dân tệ.

Bên cạnh đó, các nhà chức trách sẽ hoãn các khoản chi trả an sinh xã hội, bao gồm cả các khoản chi trả phí bảo hiểm hưu trí, cho các công ty nhỏ, doanh nghiệp tư nhân và một số lĩnh vực khó khăn nghiêm trọng cho đến cuối năm nay với quy mô dự kiến vào khoảng 320 tỷ nhân dân tệ.

Nội các được dẫn lời cũng nói rằng các ngân hàng cũng sẽ hoãn thời hạn trả nợ đối với một số khoản vay, bao gồm cả các khoản vay mua ô tô và tiêu dùng, của các công ty nhỏ và cá nhân gặp khó khăn. Bên cạnh đó, Quỹ bảo lãnh tài chính quốc gia sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình thêm hơn 1 nghìn tỷ nhân dân tệ trong năm nay.

Nội các cũng cho biết Trung Quốc cũng sẽ khởi động một số dự án mới trong lĩnh vực bảo tồn nước, giao thông vận tải và cải tạo các khu ổ chuột đô thị, đồng thời sẽ khởi động một số dự án năng lượng mới. Nội các cũng cam kết sẽ tăng cường các chuyến bay chở khách trong nước và quốc tế một cách có trật tự.

Tiền tệ được nới lỏng thêm

Không chỉ tăng cường hỗ trợ tài khóa mà chính sách tiền tệ cũng vào cuộc tích cực để thúc đẩy tăng trưởng. Mới đây nhất là ngày 20/5 vừa qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã tuyên bố cắt giảm lãi suất cơ bản (LPR) cho khoản vay kỳ hạn 5 năm từ 4,6% xuống còn 4,45%. Tuy nhiên lãi suất LPR kỳ hạn 1 năm vẫn được giữ ở mức 3,7%.

Đây là lần giảm lãi suất LPR 5 năm thứ hai trong năm nay và là mức cắt giảm mạnh nhất kể từ năm 2019 của PBoC với mục tiêu hồi sinh lĩnh vực nhà ở ốm yếu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Còn nhớ ngay tháng đầu tiên của năm 2022, Trung Quốc đã cắt giảm một loạt các mức lãi suất chủ chốt nhằm thúc đẩy tăng trưởng, trong đó lãi suất LPR kỳ hạn 1 năm được cắt giảm 0,1 điểm phần trăm giảm về 3,70% và lãi suất LPR 5 năm được cắt giảm 0,5 điểm về còn 4,6%.

LPR là lãi suất cho vay tham chiếu do 18 ngân hàng quy định hàng tháng và do PBoC công bố. Các ngân hàng sử dụng lãi suất LPR 5 năm để định giá các khoản thế chấp, trong khi hầu hết các khoản vay khác dựa trên lãi suất LPR 1 năm.

Bởi vậy lần cắt giảm lãi suất LPR 5 năm lần này của PBoC được kỳ vọng sẽ hỗ trợ những người mua nhà và các nhà phát triển bất động sản đang mắc nợ trong bối cảnh nền kinh tế nước này đang tăng trưởng chậm lại vì dịch Covid-19.

Chưa dừng lại ở đó, các nhà phân tích kỳ vọng sẽ có thêm các bước kích thích, chẳng hạn như tiềm năng phát hành trái phiếu kho bạc đặc biệt để tài trợ cho các khoản chi tiêu tài khóa và nhiều biện pháp hơn để thúc đẩy tiêu dùng trong những tháng còn lại của năm. “Chính phủ sẽ tiếp tục tung ra các gói kích cầu trong nửa cuối năm nay, thông qua cả hai kênh tiền tệ và tài khóa”, Zhu Ning - Giáo sư tại Viện Tài chính Cao cấp Thượng Hải tại Đại học Giao thông Thượng Hải nói với Reuters tại cuộc họp thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos. “Vẫn còn rất nhiều lựa chọn trong hộp công cụ của các nhà hoạch định chính sách”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650