Trung Quốc: Tín dụng chậm lại vì Covid-19

08:00 | 17/08/2022

Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong quý II do các đợt đóng cửa trên diện rộng để ngăn ngừa sự lây lan của dịch Covid-19 đã tác động đến nhu cầu và hoạt động kinh doanh, trong khi thị trường bất động sản bị trì trệ từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác.

Dữ liệu do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) công bố cuối tuần trước cho thấy, trong tháng 7 dư nợ cho vay mới của các ngân hàng Trung Quốc chỉ đạt 679 tỷ nhân dân tệ (101 tỷ USD), chưa bằng 1/4 so với tháng 6. Trong đó các khoản vay hộ gia đình, bao gồm cả các khoản thế chấp, đã giảm xuống 121,7 tỷ nhân dân tệ trong tháng 7 từ 848,2 tỷ nhân dân tệ trong tháng 6; trong khi các khoản vay doanh nghiệp giảm xuống 287,7 tỷ nhân dân tệ từ 2,21 nghìn tỷ nhân dân tệ.

“Tăng trưởng tín dụng đã giảm trở lại vào tháng trước, với sự xáo trộn của thị trường bất động sản đang đè nặng lên hoạt động cho vay của ngân hàng”, Capital Economics cho biết trong một ghi chú. “Nó có thể tiếp tục gây thất vọng trong ngắn hạn do tâm lý của người mua nhà có thể vẫn còn yếu”.

trung quoc tin dung cham lai vi covid 19
Ảnh minh họa

Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong quý II do các đợt đóng cửa trên diện rộng để ngăn ngừa sự lây lan của dịch Covid-19 đã tác động đến nhu cầu và hoạt động kinh doanh, trong khi thị trường bất động sản bị trì trệ từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác.

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc khó lòng đạt được mục tiêu tăng trưởng 5,5% trong năm 2022 như đã đề ra. PBoC gần đây cũng nhắc lại rằng họ sẽ đẩy mạnh thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng và giữ thanh khoản dồi dào hợp lý, đồng thời theo dõi chặt chẽ những thay đổi lạm phát trong và ngoài nước.

Công ty dữ liệu China Beige Book International - công ty thực hiện các cuộc khảo sát hàng tháng với hơn 1.000 công ty - cho biết, nhu cầu tín dụng trong tháng 7 từ các công ty sản xuất và dịch vụ đã giảm rõ rệt, dù có sự gia tăng nhẹ trong lĩnh vực bán lẻ.

Một số nhà phân tích cho rằng tình trạng dư thừa thanh khoản gần đây trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng là một dấu hiệu cho thấy nhu cầu tín dụng yếu hơn.

Dữ liệu của PBoC cũng cho thấy cung tiền M2 đã tăng 12% trong tháng 7 so với một năm trước đó, cao hơn ước tính 11,4% trong cuộc thăm dò của Reuters. Dư nợ cho vay bằng đồng nhân dân tệ tăng 11% so với mức tăng 11,2% trong tháng 6.

Trong khi tăng trưởng tổng dư nợ tài chính xã hội (TSF), một thước đo rộng rãi về tín dụng và thanh khoản trong nền kinh tế, đã giảm xuống 10,7% trong tháng 7 từ 10,8% trong tháng 6. Vào tháng 7, TSF đã giảm xuống 756,1 nghìn tỷ nhân dân tệ từ 5,17 nghìn tỷ vào tháng 6.

Dữ liệu từ Bộ Tài chính Trung Quốc cũng cho thấy, các chính quyền địa phương đã phát hành 3,41 nghìn tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt ròng trong 6 tháng đầu năm - một phần của hạn ngạch trái phiếu đặc biệt năm 2022 là 3,65 nghìn tỷ nhân dân tệ, khi các nhà chức trách tìm cách tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.650 23.960 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.700 23.980 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.680 23.980 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.600 23.900 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.690 23.960 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.650 24.000 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.700 23.950 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.678 23.990 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.570 24.025 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.740 24.000 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.750
65.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.750
65.750
Vàng SJC 5c
64.750
65.770
Vàng nhẫn 9999
51.100
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.600