Tỷ giá ngày 12/7: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm

10:09 | 12/07/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (12/7), trong khi tỷ giá trung tâm quay đầu giảm thì giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng hầu như không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam Tỷ giá ngày 9/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh
ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam Tỷ giá ngày 8/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.198 đồng, giảm 3 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã quay đầu giảm sau khi tăng ba phiên liên tiếp với tổng mức tăng là 26 đồng.

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.844 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng hầu như không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.870 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.920 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.080 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.118 VND/USD.

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,154 điểm, tăng +0,052 điểm (+0,06%) so với thời điểm mở cửa.

Các đồng tiền rủi ro gần đây dao động quanh mức thấp so với bạc xanh, trong bối cảnh thị trường bớt do lo ngại về sự chậm lại trong phục hồi kinh tế toàn cầu.

Triển vọng lạm phát của Mỹ và tốc độ thắt chặt chính sách trong tương lai của Cục Dự trữ Liên bang (Mỹ) đang được tập trung theo dõi trước khi chỉ số giá tiêu dùng Mỹ sẽ được công bố vào thứ Ba và phát biểu của Chủ tịch Fed Jerome Powell trước Quốc hội về chính sách tiền tệ 6 tháng đầu năm vào thứ Tư.

“Nếu dữ liệu kinh tế mạnh mẽ hơn dự báo, Fed có thể đưa ra kế hoạch về lần tăng lãi suất đầu tiên. Điều đó cũng có nghĩa là họ phải hoàn thành việc thắt chặt chính sách sớm hơn", Shinichiro Kadota, chiến lược gia ngoại hối cao cấp tại Barclays, nói.

Trong cuộc thăm dò mới đây của Reuters, các nhà kinh tế dự đoán chỉ số CPI lõi của Mỹ trong tháng Sáu sẽ tăng 0,4% so với tháng Năm và tăng 4,0% so với cùng kỳ sau hai tháng liên tiếp tăng mạnh.

Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy lạm phát có thể kéo dài hơn sẽ làm tăng kỳ vọng Fed giảm các biện pháp kích thích sớm hơn dự kiến, điều này sẽ hỗ trợ bạc xanh.

Ngược lại, dữ liệu kém hơn dự báo có thể khiến các nhà đầu tư nghĩ rằng Fed sẽ duy trì một chính sách nới lỏng lâu hơn, điều này có lợi cho các loại tiền tệ nhạy cảm với rủi ro.

Sáng nay, đồng euro giảm nhẹ và được giao dịch ở mức 1,1871 USD, vẫn cao hơn mức thấp nhất trong ba tháng là 1,17815 USD chạm tới vào thứ Tư tuần trước.

Đồng bảng Anh sáng nay tăng nhẹ 0,02% lên 1,3904 USD.

Các đồng tiền rủi ro đã trượt giá trong phiên đầu tuần, một phần do dữ liệu kinh tế từ nhiều quốc gia không đạt được kỳ vọng của thị trường.

Mối quan tâm về biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2 mới cũng làm tăng thêm tâm lý thận trọng, mặc dù ít nhà đầu tư nghĩ rằng sự phục hồi kinh tế sẽ đi lệch hướng.

Tuy nhiên, việc bán các đồng tiền rủi ro đã giảm bớt và tâm lý được củng cố sau khi Trung Quốc cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc để củng cố sự phục hồi kinh tế đang bắt đầu mất đà.

Sáng nay, tỷ giá cặp USD/CNY giảm 0,11% ở mức 6,4719 CNY, thấp hơn so với mức thấp nhất trong 2,5 tháng đạt vào thứ Sáu là 6,5005 CNY.

Sự phục hồi trong tâm lý ưa rủi ro đã cản trở đồng yên lấy lại vị thế. Sáng nay, tỷ giá cặp USD/JPY ở mức 110,13 yên, thấp hơn mức cao nhất trong một tháng của ngày thứ Năm là 109,535 yên.

Sáng nay, đô la Úc giảm 0,15% ở mức 0,7477 USD, nhưng vẫn cao hơn mức thấp nhất trong 7 tháng là 0,7410 USD đạt vào phiên thứ Sáu tuần trước.

Trong khi đó, đồng đô la New Zealand giảm 0,18% ở mức 0,6985 USD.

ty gia ngay 127 ty gia trung tam quay dau giam

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900