Tỷ giá ngày 13/7: Tỷ giá trung tâm tăng trở lại

09:53 | 13/07/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (13/7), trong khi tỷ giá trung tâm tăng trở lại thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua giá đã tăng.

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá ngày 12/7: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm
ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá ngày 9/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.201 đồng, tăng 3 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau phiên giảm nhẹ trước đó.

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.844 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua giá đã tăng.

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.890 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.925 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.080 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.135 VND/USD.

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,187 điểm, giảm -0,037 điểm (-0,04%) so với thời điểm mở cửa.

Sáng nay, chỉ số bạc xanh giảm nhẹ sau khi tăng 0,15% trong phiên hôm qua, trong bối cảnh thị trường chờ đợi dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ sẽ được công bố vào cuối ngày. Các nhà đầu tư đang cân nhắc xem liệu các số liệu có thể cung cấp manh mối về thời gian Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thu hẹp chính sách kích thích và tăng lãi suất hay không.

Theo thăm dò của Reuters, các chuyên gia kinh tế dự đoán chỉ số CPI của Mỹ trong tháng Sáu sẽ tăng 0,5% so với tháng Năm và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Các nhà đầu tư cho rằng nếu số liệu không như dự báo có thể sẽ khiến đồng bạc xanh và thị trường trái phiếu lên cao hơn khi nhà đầu tư thay đổi kỳ vọng về lãi suất.

"Chúng ta cần một mức tăng lạm phát 5,5% so với cùng kỳ để thực sự làm 'bùng cháy' thị trường này, bởi nó có thể nâng lợi suất trái phiếu và bạc xanh đi lên", Chris Weston, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu tại Pepperstone, nói.

“Chúng tôi biết lạm phát sẽ chỉ là tạm thời nhưng câu hỏi là mất bao lâu để quay trở lại mức 2%”, ông nói và lưu ý rằng: “Con số lạm phát tăng dưới 4,5% sẽ khiến bạc xanh gặp áp lực".

Trong khi đó, chiến lược gia Kit Juckes của Societe Generale tin rằng thị trường sẽ phản ứng mạnh nếu lạm phát thấp hơn tháng trước đó, điều này khiến các nhà đầu tư đặt cược rằng Fed có thể duy trì chính sách nới lỏng lâu hơn, đồng thời chỉ ra rằng đồng yên sẽ được hưởng lợi.

Sáng nay, bạc xanh gần như đi ngang so với đồng yên và được giao dịch ở mức 110,36 yên.

Đồng euro sáng nay tăng nhẹ so với bạc xanh ở mức 1,1868 USD, trong bối cảnh Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde bầy tỏ quan điểm ôn hòa hơn trong điều hành chính sách tiền tệ.

Đồng franc Thụy Sĩ giảm nhẹ ở mức 0,9146 USD, nhưng vẫn gần với mức cao nhất trong một tháng.

Đồng bảng Anh tăng nhẹ 0,07% và giao dịch ở mức 1,3893 USD, trong bối cảnh thị trường lo lắng về việc Anh sẽ từ bỏ các biện pháp hạn chế dịch COVID-19 vào tuần tới, ngay cả khi các ca mắc mới tiếp tục tăng.

Với các đồng tiền đại diện rủi ro, đô la Úc sáng nay tăng 0,23% ở mức 0,7493 USD; đô la New Zealand tăng 0,3% và giao dịch ở mức 0,6997 USD.

Theo các chuyên gia, bạc xanh đang được thúc đẩy bởi kỳ vọng thay đổi lãi suất của Mỹ, nó tăng gần 2% trong tháng kể từ khi Fed gây bất ngờ cho thị trường bằng cách dự kiến ​​tăng lãi suất sớm hơn ​​vào năm 2023.

Trái phiếu dài hạn của Mỹ đã tăng giá khi các nhà đầu tư nhận thấy các vấn đề xuất hiện trong sự phục hồi kinh tế và việc Fed chuyển sang quan điểm diều hâu hơn, điều này đồng nghĩa với khả năng Fed sẽ hành động nhanh hơn để giữ lạm phát ở mức thấp.

Thị trường sẽ tập trung vào phiên điều trần của Chủ tịch Fed Jerome Powell tại Quốc hội vào thứ Tư, để theo dõi chặt chẽ về phản ứng của ngân hàng trung ương đối với các số liệu lạm phát và quan điểm của ông về tiến trình phục hồi kinh tế.

ty gia ngay 137 ty gia trung tam tang tro lai

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800