Tỷ giá ngày 16/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm

10:08 | 16/07/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (16/7), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm thì giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam Điểm lại thông tin kinh tế ngày 15/7
ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam Tỷ giá ngày 15/7: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm nhẹ

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.192 đồng, giảm 11 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 12 đồng.

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.838 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.880 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.940 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.090 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.115 VND/USD.

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,620 điểm, tăng +0,058 điểm (+0,06%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tiếp tục tăng nhẹ và hướng tới mức tăng hàng tuần tốt nhất trong khoảng một tháng, được hỗ trợ bởi việc nhà đầu tư tăng mua vào do lo ngại Mỹ sẽ tăng lãi suất nhanh hơn dự kiến và tốc độ lây nhiễm do biến chủng Delta của vi-rút SARS-CoV-2 gia tăng.

So với các đồng tiền chủ chốt khác, tính từ đầu tuần bạc xanh tăng 0,5% so với đồng euro, tăng tương tự so với đồng bảng Anh, và tăng cao hơn một chút với 0,9% so với đô la Úc.

“Rõ ràng có một số yếu tố hỗ trợ mạnh cho đô la Mỹ và tôi nghĩ rằng điều đó đang kìm hãm đồng tiền của tất cả các nền kinh tế lớn", chiến lược gia Imre Speizer của Westpac nói.

“Có thể do yếu tố lãi suất hay đôi khi do đó là tài sản trú ẩn an toàn... nên chúng tôi cảm nhận rằng bạc xanh sẽ khá mạnh trong vài tháng tới”, Speizer nói thêm.

Hôm nay, thị trường sẽ chờ đợi báo cáo về doanh số bán lẻ và niềm tin người tiêu dùng của Mỹ để có thêm thông tin về triển vọng lạm phát và sự phục hồi kinh tế Mỹ.

Ở các nước khác, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) sẽ kết thúc cuộc họp kéo dài hai ngày nhưng có khả năng sẽ không thay đổi chính sách hiện tại.

Sáng nay, bạc xanh tiếp tục gia tăng sức mạnh với đồng yên, hiện tỷ giá cặp USD/JPY đang giao dịch ở mức 110,01 yên, tăng 0,16% trong phiên. Tuy nhiên tính từ đầu tuần, đồng yên đã tăng khoảng 0,2% so với đô la Mỹ.

Đô la New Zealand sáng nay nằm trong số ít các đồng tiền lớn tăng giá so với bạc xanh, khi lạm phát ở quốc gia này tăng nhanh hơn nhiều so với dự kiến - mức cao nhất trong một thập kỷ với 3,3% so với cùng kỳ. Hiện tỷ giá cặp NZD/USD đang giao dịch ở mức 0,70003 USD, tăng 0,33%.

Những số liệu mới đây đã mang lại kỳ vọng cho thị trường rằng Ngân hàng Trung ương New Zealand (RBNZ) sẽ tăng lãi suất vào tháng tới. Bên cạnh đó, các thị trường hiện đang dự đoán tới 86% RBNZ sẽ trở thành ngân hàng trung ương thị trường phát triển đầu tiên dừng các chính sách khẩn cấp vì đại dịch.

Tuy nhiên, khi đồng bạc xanh đang khá vững chắc thì ngay cả với các triển vọng đã nêu cũng không thể khiến đồng tiền của New Zealand bứt phá khỏi phạm vi giao dịch gần đây, tính đến hết tuần nó chỉ tăng 0,1% so với USD.

Tâm lý trên khắp các thị trường tài chính đang ảm đạm khi tình trạng lây nhiễm biến chủng Delta của vi-rút SARS-CoV-2 đang gia tăng trên toàn cầu. Các nhà đầu tư đã đặt hy vọng vào những gì sẽ xảy ra ở nước Anh - nước có tỷ lệ tiêm chủng cao - khi nước này dự kiến sẽ mở cửa trở lại vào thứ Hai.

Đồng bảng Anh sáng nay giao dịch ở mức 1,3827 USD, gần như đi ngang sau khi số liệu việc làm mạnh mẽ được công bố và bình luận mang quan điểm "diều hâu" từ Michael Saunders, một nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương Anh.

Sáng nay, đồng euro giảm nhẹ so với bạc xanh và giao dịch ở mức 1,1807 USD, ngay sát mức thấp nhất trong ba tháng là 1,1772 USD.

Đồng đô la Úc nhạy cảm với rủi ro cũng là 'nạn nhân' của tâm lý thận trọng với sự đóng cửa của Melbourne và Sydney. Sáng nay, tỷ giá cặp AUD/USD giảm nhẹ và ở mức 0,7420 USD, và tính từ đầu tuần nó đã giảm khoảng 0,9%.

ty gia ngay 167 ty gia trung tam tiep tuc giam

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000