Tỷ giá ngày 17/9: Tỷ giá trung tâm tăng trở lại

10:05 | 17/09/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (17/9), trong khi tỷ giá trung tâm tăng trở lại sau 2 phiên giảm liên tiếp trước đó, thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá ngày 16/9: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm
ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá ngày 15/9: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.119 đồng, tăng 9 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau hai phiên giảm liên tiếp với tổng mức giảm là 20 đồng.

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.750 VND/USD đối với giá mua vào và 23.763 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước đó.

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.630 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.680 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 22.840 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 22.865 VND/USD.

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,9112 điểm, tăng +0,045 điểm (+0,05%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh lên gần mức cao nhất trong ba tuần so với các đồng tiền chủ chốt khác sau khi một loạt dữ liệu kinh tế mạnh mẽ của Mỹ đã khôi phục kỳ vọng về việc thắt chặt chính sách trước đó của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Doanh số bán lẻ của Mỹ bất ngờ tăng 0,7% do với tháng trước trong tháng Tám, trong khi khảo sát tâm lý kinh doanh của Fed Philadelphia cũng cho thấy sự cải thiện lớn.

“Dữ liệu công bố ngày hôm qua khá mạnh mẽ bất chấp thị trường đã lo lắng rằng sức tiêu thụ sẽ yếu trong tháng Tám do biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2. Nhưng sự thực, nó đã tăng mạnh một cách đáng ngạc nhiên”, Yujiro Goto, giám đốc chiến lược tiền tệ tại Nomura Securities, nói.

Các số liệu này đã giúp kiềm chế những quan điểm thận trọng về nền kinh tế Mỹ được đưa ra sau khi lạm phát chậm lại và tăng trưởng việc làm yếu được công bố hồi đầu tháng, giúp hồi sinh kỳ vọng về việc Fed sớm giảm dần kích thích kinh tế.

Sáng nay, euro giảm nhẹ và giao dịch ở 1,1763 USD, gần mức thấp nhất trong ba tuần là 1,1750 USD trước đó.

Hôm qua, đồng tiền chung này cũng chạm mức thấp nhất trong ba tuần so với yên Nhật ở 128,61 JPY/EUR và mức thấp nhất trong một tháng so với bảng Anh là 0,8501 GBP, trước khi phục hồi vào sáng nay.

Sức mạnh của đồng đô la Mỹ tăng rõ rệt nhất so với các tài sản trú ẩn an toàn khác, chẳng hạn như đồng franc Thụy Sĩ và các kim loại quý.

Sáng nay, đồng franc Thụy Sĩ đi ngang so với bạc xanh sau khi chạm mức thấp nhất trong 5 tháng là 0,92785 USD trong phiên hôm qua, giảm 0,89%.

Bạc xanh sáng nay tiếp tục tăng 0,15% so với yên Nhật và trở lại mức 109,89 JPY/USD, trước đó nó đã tăng 0,34% và thoát khỏi mức thấp nhất trong sáu tuần vào hôm thứ Tư ở 109,11.

Đồng yên cho đến nay đã cho thấy phản ứng hạn chế trước cuộc chạy đua vào vị trí lãnh đạo Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền của Nhật Bản, sẽ chính thức bắt đầu vào thứ Sáu trước cuộc bỏ phiếu ngày 29/9. Sự thống trị trong nghị viện của LDP có nghĩa là nhà lãnh đạo mới của đảng sẽ trở thành thủ tướng.

Nhiều nhà đầu tư coi bộ trưởng Taro Kono là người đang dẫn đầu, tiếp theo là cựu ngoại trưởng Fumio Kishida và cựu bộ trưởng nội vụ Sanae Takaichi.

“Những nhà đầu tư lớn trên thế giới không mong đợi những thay đổi chính sách lớn. Hiromichi Shirakawa, Phó chủ tịch kiêm nhà kinh tế trưởng của Credit Suisse tại Nhật Bản nói và thêm rằng: “Đồng yên thiếu động thái là minh chứng cho điều đó".

Ở nơi khác, sáng nay bảng Anh giảm 0,05% xuống còn 1,3788 USD; trong khi đô la Úc giao dịch ở mức 0,7286 USD, giảm 0,08% sau khi chạm mức thấp nhất trong ba tuần là 0,7274 USD trong phiên trước đó.

Sáng nay, nhân dân tệ đi ngang ở 6,4577 CNY/USD sau khi giảm 0,4% vào hôm thứ Năm, trong bối cảnh những lo lắng ngày càng tăng trước rủi ro trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc khi các nhà đầu tư lo ngại tập đoàn bất động sản khổng lồ của nước này - Evergrande - có thể vỡ nợ khi đến kỳ thanh toán vào tuần tới.

ty gia ngay 179 ty gia trung tam tang tro lai

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200