Tỷ giá ngày 23/6: Bạc xanh hồi phục sau phiên điều trần của Chủ tịch Fed

10:14 | 23/06/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (23/6), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng thì giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng đã được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/6
ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed Tỷ giá ngày 22/6: Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.191 đồng, tăng 7 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên thứ bảy tăng liên tiếp với tổng mức tăng là 92 đồng.

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.837 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng đã được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.905 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.940 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.100 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.145 VND/USD.

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 91,852 điểm, tăng +0,144 điểm (+0,16%) so với thời điểm mở cửa.

Sáng nay, bạc xanh nhích nhẹ so các đồng tiền chủ chốt khác sau khi giảm hai phiên trước đó, trong bối cảnh các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), bao gồm Chủ tịch Jerome Powell, đã tái khẳng định rằng vẫn chưa vội để thắt chặt chính sách tiền tệ.

Sau các phiên tăng mạnh khi Fed gây bất ngờ cho thị trường với tín hiệu về các đợt tăng lãi suất sớm hơn nhiều so với dự kiến ​​của các nhà đầu tư trước đó, bạc xanh đã giảm trở lại và mất 1/3 mức tăng.

Cả Chủ tịch Powell và Chủ tịch Fed New York John Williams đều cảnh báo rằng sự phục hồi kinh tế cần thêm thời gian trước khi cơ quan điều hành chính sách tiền tệ thấy cần thiết phải thắt chặt các biện pháp kích thích và đẩy chi phí đi vay cao hơn.

"Các tín hiệu mới nhất từ ​​Fed cho thấy... bối cảnh sẽ rõ ràng hơn tại cuộc họp tiếp theo của cơ quan này vào tháng Chín. Theo xu hướng hiện tại, có nhiều khả năng họ tuyên bố rằng đã có 'tiến bộ đáng kể hơn nữa' đối với các mục tiêu mà họ đã đặt ra", Ray Attrill, người đứng đầu chiến lược ngoại hối tại Ngân hàng Quốc gia Úc ở Sydney, đã viết trong một bản tin và dự báo khả năng thắt chặt sẽ không bắt đầu cho đến năm tới.

“Sau những bình luận của Fed, thị trường đã ổn định trở lại phần nào sau những biến động mạnh vào tuần trước”, ông nói thêm.

“Chúng tôi sẽ không tăng lãi suất sớm chỉ bởi vì chúng tôi lo sợ khả năng xảy ra lạm phát, mà chúng tôi sẽ chờ đợi số liệu về lạm phát thực tế, hay các mất cân bằng khác", Chủ tịch Fed Powell phát biểu tại điều trần trước một ủy ban của Hạ viện Mỹ đầu tuần này.

Trong khi đó, Chủ tịch Fed New York John Williams cho biết các quan chức Fed sẽ theo dõi chặt chẽ dữ liệu kinh tế để xác định thời điểm thích hợp để bắt đầu thảo luận về việc điều chỉnh chính sách tiền tệ.

"Đó vẫn là một lựa chọn khá khó khăn", ông nói.

Dữ liệu lạm phát giá sản xuất của Mỹ, được công bố vào thứ Sáu, sẽ là thông tin kinh tế lớn tiếp theo được các nhà đầu tư chờ đợi.

Sáng nay, đồng euro giảm 0,14% và giao dịch ở mức 1,19340 USD, sau khi tăng trở lại từ mức thấp 1,18470 USD vào cuối tuần trước.

Bảng Anh sáng nay giảm 0,14% ở mức 1,3930 USD trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi sự mở cửa trở lại của nền kinh tế này vào ngày 19/7.

Đồng đô la Úc sáng nay giảm 0,17% và giao dịch ở mức 0,7541 USD; trong khi đồng đô là New Zealand giảm 0,23% ở mức 0,7006 USD.

Đồng yên, vốn có xu hướng diễn biến trái chiều với lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, đã tăng 0,15% và giao dịch ở mức 110,8200 JPY/USD, gần với mốc cao 110,825 đạt được vào tuần trước - lần đầu tiên kể từ ngày 1/4.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm ở thị trường châu Á, xuống 1,4616%, từ mức cao 1,5940% cách đây một tuần.

ty gia ngay 236 bac xanh hoi phuc sau phien dieu tran cua chu tich fed

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.822 23.042 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.850 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.850 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.840 23.055 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.827 23.042 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.250
Vàng SJC 5c
56.550
57.270
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400