Tỷ giá ngày 25/9: Tiếp tục tăng nhẹ

10:11 | 25/09/2020

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (25/9), nhiều ngân hàng tiếp tục tăng giá USD thêm 5-10 đồng mỗi chiều mua - bán.

ty gia ngay 259 tiep tuc tang nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sáng nay điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm thêm 13 đồng, lên mức 23.223 đồng/USD.

ty gia ngay 259 tiep tuc tang nhe

Sáng nay, nhiều ngân hàng tiếp tục tăng giá USD thêm 5-10 đồng mỗi chiều mua - bán.

ty gia ngay 259 tiep tuc tang nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.054 đồng/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.120 đồng/USD. Trong khi đó, ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.250 đồng/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.306 đồng/USD.

ty gia ngay 259 tiep tuc tang nhe

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), đến 9 giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 94,35 điểm, giảm nhẹ 0,01 điểm (0,01%) so với mở cửa.

ty gia ngay 259 tiep tuc tang nhe

Việc đồng đô la Mỹ quay đầu giảm từ mức đỉnh hai tháng trong phiên sáng nay là do kỳ vọng gia tăng về biện pháp kích thích mới của Mỹ làm giảm bớt lo ngại của giới đầu tư về triển vọng phục hồi kinh tế nhưng gia tăng phỏng đoán về đợt mất giá của bạc xanh.

Ngược xu hướng của đồng đô la, chứng khoán Mỹ tăng điểm khi các nhà giao dịch hy vọng rằng những cuộc đàm phán giữa Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, một đảng viên Dân chủ, và Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Steven Mnuchin về gói kích thích có thể được nối lại.

Một gói kích thích nhằm làm nhẹ tác động kinh tế của Covid-19 trị giá 2,2 nghìn tỷ USD có thể được bỏ phiếu vào tuần tới.

Động thái này được đưa ra sau khi dữ liệu mới nhất cho thấy số lượng người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp bất ngờ tăng vào tuần trước - một dấu hiệu cho thấy động lực phục hồi kinh tế đang cạn kiệt.

Tuy nhiên, nhiều các nhà giao dịch dường như vẫn thận trọng vì còn nghi ngờ về việc liệu Mỹ có thể vượt qua sự chia rẽ để thông qua gói kích thích này hay không.

Những bất ổn chính trị tại Mỹ cũng đẩy nhiều nhà đầu tư đứng trước nguy cơ phải đối mặt với những xáo trộn từ một cuộc bầu cử gây tranh cãi, khi Tổng thống Donald Trump từ chối cam kết chuyển giao quyền lực một cách hòa bình nếu ông thua trong cuộc bầu cử sắp tới.

“Gần đây, chúng tôi đã thấy đồng đô la tăng liên tiếp sau khi các tài sản rủi ro bị bán tháo. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ xem xét liệu điều này có tiếp tục diễn ra sau cuối tháng này hay không”, Yukio Ishizuki, chiến lược gia cấp cao tại Daiwa Securities, nói.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ 10 năm đã tăng lên mức cao nhất hai tháng cũng đã củng cố vị thế đồng đô la.

Đồng euro đã tăng lên mức 1,1671 USD/EUR sau khi chạm mức thấp nhất hai tháng ở 1,16265 USD/EUR trong phiên ngày thứ Năm.

Tuy nhiên so với yên Nhật, đồng đô la đã tăng nhẹ lên 105,41 JPY/USD, mức mạnh nhất trong hơn một tuần.

Đồng bảng Anh đã cố gắng duy trì trên mức thấp nhất trong hai tháng vào thứ Tư sau khi chính phủ nước này triển khai chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 đang bùng phát trở lại.

Đồng nhân dân tệ trên thị trường quốc tế cũng đã tăng giá, sau khi FTSE Russell thông báo họ sẽ thêm trái phiếu chính phủ Trung Quốc vào Chỉ số Trái phiếu chính phủ thế giới (WGBI), bắt đầu từ năm 2021.

“Sở hữu trái phiếu chính phủ Trung Quốc của nhà đầu tư nước ngoài đã tăng đều đặn”, Kevin Xie, nhà kinh tế Trung Quốc tại Commonwealth Bank ở Sydney, cho biết. “Việc đưa vào tiêu chuẩn WGBI sẽ thúc đẩy thêm dòng chảy vốn ngoại vào thị trường trái phiếu Trung Quốc và hỗ trợ đồng nhân dân tệ”.

Đồng đô la Úc được giao dịch ở mức 0,7056 USD/AUD, sau khi chạm mức thấp nhất trong hai tháng là 0,7016 USD/AUD.

Đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ giữ ổn định sau khi tăng từ mức thấp kỷ lục hôm thứ Năm, khi ngân hàng trung ương nước này bất ngờ tăng lãi suất thêm 200 điểm cơ bản.

Đồng lira lần cuối đứng ở mức 7.6200 TRY/USD, cao hơn 1% so với mức thấp kỷ lục 7.7170 TRY/USD được thiết lập vào thứ Năm.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.040 23.270 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23..285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.066 23.266 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.450
Vàng SJC 5c
56.000
56.470
Vàng nhẫn 9999
53.650
54.150
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850