Tỷ giá ngày 28/9: Ổn định trong phiên đầu tuần

10:23 | 28/09/2020

Mở đầu tuần giao dịch mới, sáng nay (28/9), chỉ một số ít ngân hàng điều chỉnh giá USD với biên độ nhỏ. Nhìn chung, tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục ổn định.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sáng nay điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm thêm 3 đồng, lên mức 23.226 đồng/USD.

Sáng nay, chỉ một số ít ngân hàng điều chỉnh giá USD với biên độ nhỏ. Nhìn chung, tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục ổn định.

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.053 đồng/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.120 đồng/USD. Trong khi đó, ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.250 đồng/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.304 đồng/USD.

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), đến 9 giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 94,51 điểm, giảm 0,13 điểm (0,14%) so với thòi điểm mở cửa.

Đồng đô la sáng nay được giao dịch quanh mức cao nhất trong hai tháng so với rổ tiền tệ, khi các nhà đầu tư đang chờ đợi các dữ liệu kinh tế sắp được công bố và diễn biến chính trị phức tạp tại Mỹ trước khi quyết định đặt cược vào bạc xanh.

Việc chứng khoán Mỹ phục hồi trong phiên cuối tuần qua cũng giúp kiềm chế đà tăng của đồng đô la, được coi là nơi trú ẩn an toàn.

Đồng Euro đang đứng ở mức 1,1635 USD/EUR, giảm so với mức 1,16125 USD/EUR đạt được vào thứ Sáu, xuống mức thấp nhất trong 2 tháng.

Đồng bảng Anh đứng ở mức 1,2767 USD/GBP, cao hơn một chút so với mức thấp nhất trong hai tháng chạm tới vào ngày thứ Tư là 1,2676 USD/GBP.

Dữ liệu về giao dịch tương lai tiền Mỹ được công bố vào thứ Sáu cho thấy các nhà đầu cơ bán khống ròng lớn đối với bạc xanh. Theo Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ, các nhà đầu cơ bán khống ròng 33,989 tỷ USD trong tuần qua, tăng từ 31,524 tỷ USD ở tuần trước đó và gần đạt mức cao nhất trong khoảng mười năm.

Ngược lại giới đầu cơ vẫn mua ròng rất lớn đối với đồng euro, tuần vừa qua đã tăng nhẹ vị thế mua ròng so với tuần trước đó để lên tương đương 27,922 tỷ USD.

“Chúng ta cần phải thận trọng với một đồng euro có thể yếu đi. Hiện tại, chúng ta không thiếu những yếu tố đáng quan ngại ở châu Âu, bao gồm cả sự gia tăng lâu nhiễm vi-rút ở Pháp và nhiều nơi khác, những nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương châu Âu nhằm giảm giá đồng euro và Brexit có thể không đạt được thỏa thuận”, Makoto Noji, chiến lược gia tiền tệ tại SMBC Nikko Securities lưu ý.

So với đồng yên, đồng đô la giảm nhẹ xuống mức 105,46 JPY/USD.

Các nhà đầu tư hiện đang hướng tới cuộc tranh luận đầu tiên diễn ra vào thứ Ba tới của các ứng cử viên Tổng thống Mỹ cho cuộc bầu cử vào tháng 11.

“Sẽ có ít người cố đặt cược theo dự đoán kết quả bầu cử. Ít nhất thì họ sẽ đợi đến sau cuộc tranh luận trên truyền hình ngày mai”, Kyosuke Suzuki, giám đốc đầu tư ngoài hối tại Societe Generale nói.

Trước cuộc tranh luận, tờ New York Times hôm Chủ nhật đưa tin Tổng thống Donald Trump đã trả rất ít thuế thu nhập trong những năm gần đây do các doanh nghiệp kinh doanh của ông bị lỗ nặng.

Trong khi đó ở thời điểm hiện nay, rất ít nhà đầu tư hy vọng Quốc hội Mỹ sẽ thông qua bất kỳ gói kích thích nào trước cuộc bầu cử, giải pháp được coi là quan trọng để hỗ trợ nền kinh tế đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch.

Nhưng, ngày càng có nhiều lo ngại rằng sự phục hồi kinh tế đang chậm lại do nhiều chương trình kích cầu đã hết hạn, điều này sẽ tiết giảm chi tiêu của người dân.

Tuần này, thị trường sẽ được cung cấp nhiều dữ liệu hơn để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế Mỹ, bao gồm niềm tin của người tiêu dùng vào thứ Ba, kết quả khảo sát khu vực sản xuất vào thứ Năm và dữ liệu việc làm vào thứ Sáu.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400