Tỷ giá ngày 9/10: Nhiều ngân hàng giảm giá USD

10:09 | 09/10/2020

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (9/10), hầu hết các ngân hàng cùng điều chỉnh giảm giá USD với mức giảm phổ biến từ 5-10 đồng mỗi chiều mua - bán. Hiện giá bán USD tại các ngân hàng phổ biến trong hkoangr 23.270-23.280 đồng/USD.

ty gia ngay 910 nhieu ngan hang giam gia usd

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sáng nay tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống mức 23.198 đồng/USD.

ty gia ngay 910 nhieu ngan hang giam gia usd

Sáng nay, hầu hết các ngân hàng cùng điều chỉnh giảm giá USD với mức giảm phổ biến từ 5-10 đồng mỗi chiều mua - bán. Hiện giá bán USD tại các ngân hàng phổ biến trong hkoangr 23.270-23.280 đồng/USD.

ty gia ngay 910 nhieu ngan hang giam gia usd

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.054 đồng/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.130 đồng/USD. Trong khi đó, ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.260 đồng/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.300 đồng/USD.

ty gia ngay 910 nhieu ngan hang giam gia usd

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), đến 9 giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 93,46 điểm, giảm 0,15 điểm (0,16%) so với thời điểm mở cửa.

ty gia ngay 910 nhieu ngan hang giam gia usd

Đồng đô la Mỹ tính đến sáng nay đã giảm phiên thứ hai liên tiếp, trong bối cảnh các đồng tiền hàng hóa tăng và hy vọng vẫn được duy trì đối với các biện pháp kích thích của Mỹ - điều này đã hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư chuyển sang các loại tiền tệ rủi ro hơn.

Các cuộc đàm phán giữa Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi và Bộ trưởng Bộ Tài chính Steven Mnuchin về các kế hoạch viện trợ Covid-19 đã được nối lại, chỉ hai ngày sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố chấm dứt.

Tuy nhiên, việc các tiến bộ đạt được vẫn còn hạn chế khiến đồng đô la mất giá trong khi các đồng tiền lớn khác chỉ tăng khiêm tốn. Tính từ đầu tuần đến nay, đồng đô la đã giảm khoảng 0,3%.

Triển vọng của các biện pháp kích thích để hỗ trợ sự phục hồi nền kinh tế lớn nhất thế giới đã đè nặng lên đồng đô la trong ngắn hạn, trong khi nó giúp cải thiện tâm trạng của các nhà đầu tư và khiến họ sẵn sàng mua các tài sản rủi ro hơn như cổ phiếu và tiền tệ hàng hóa.

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến khả năng đắc cử Tổng thống của Joe Biden, do đảng Dân chủ đang thúc ép gói chi tiêu tài khóa lớn hơn.

“Những người tham gia thị trường đang tưởng tượng viễn cảnh một vòng kích thích tài chính mới của Mỹ đang đến, bất chấp sự không chắc chắn xung quanh việc liệu nó có xảy ra trước cuộc bầu cử hay không và nó sẽ lớn như thế nào”, Rodrigo Catril, chiến lược gia ngoại hối cao cấp tại National Australia Bank ở Sydney, nói. “Niềm tin của các nhà đầu tư cũng tăng lên đối với khả năng Biden sẽ thắng cử Tổng thống với tỷ số chênh lệch rõ ràng”.

Đồng đô la Úc nhạy cảm với rủi ro đã tăng 0,4% trong phiên hôm qua và ổn định vào đầu phiên giao dịch châu Á sáng nay. Giá đồng tiền này gần như không thay đổi trong tuần, mặc dù các nhà phân tích cho rằng tuyên bố của ngân hàng trung ương hôm thứ Ba là một tín hiệu về việc nới lỏng tiền tệ sắp tới.

Đồng đô la New Zealand đã gần như lấy lại mặt bằng giá vào thứ Năm, sau một tín hiệu ôn hòa khác từ Ngân hàng Dự trữ New Zealand và ổn định ở mức 0,6586 USD/NZD vào sáng nay.

Đồng yên Nhật đã được giao dịch ngay trên mức thấp nhất trong ba tuần vào sáng nay, ở mức 106,02 JPY/USD, tức đã giảm gần 0,7% trong tuần này.

Đồng euro ổn định ở mức 1,1763 USD/EUR. Đồng bảng Anh không đổi trong phiên hôm qua và giữ vững trong tuần này khi triển vọng về một thỏa thuận Brexit có vẻ được cải thiện, giao dịch gần nhất ở mức 1,2937 USD/GBP.

Trong một diễn biến khác, giá dầu tăng 10% trong tuần này, do lạc quan về các gói kích thích và gián đoạn nguồn cung do một cơn bão ở Vịnh Mexico và cuộc đình công ở Na Uy làm đóng cửa nhiều cơ sở sản xuất dầu, thúc đẩy các đồng tiền hàng hóa liên quan đến dầu mỏ.

Đô la Canada thiết lập mức tăng hàng tuần tốt nhất trong hơn hai tháng, thêm 0,9% lên 1,3191 CAD/USD. Đồng rúp Nga cũng đã tăng khoảng 1% trong tuần này.

Thị trường tài sản, hàng hóa, tiền tệ và trái phiếu của Trung Quốc hôm nay tiếp tục giao dịch sau kỳ nghỉ lễ và các nhà giao dịch kỳ vọng đồng nhân dân tệ trong nước sẽ tăng để bắt kịp đà tăng ở nước ngoài.

Trước kỳ nghỉ, nhân dân tệ giao dịch ở mức 6,7355 CNY/USD trong giao dịch thương mại nước ngoài.

Tuy nhiên trong phiên sáng nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc đã tăng 1% lên mức cao nhất trong 17 tháng tại 6,7218 CNY/USD, khi các nhà đầu tư đặt cược vào nhiệm kỳ Tổng thống của Joe Biden và chi tiêu kích thích nhiều hơn của Mỹ.

“Tôi nghĩ thông điệp chính là Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đang cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá hơn nữa tới mức này”, Ken Cheung, trưởng chiến lược gia ngoại hối châu Á tại Ngân hàng Mizuho ở Hồng Kông, nói. "Vì vậy, các thị trường đang định vị cho một đợt tăng giá của đồng nhân dân tệ".

Viễn cảnh về một chính quyền Biden ít nghiêng về thuế quan và tranh chấp thương mại là một sự thúc đẩy khác.

"Các cuộc thăm dò đang cho thấy Biden đang dẫn đầu... điều đó có nghĩa là rủi ro nối lại một cuộc chiến thương mại mới đang giảm xuống, vì vậy tôi nghĩ điều này là tích cực cho đồng Nhân dân tệ", ông nói thêm.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400