Tỷ giá sáng 11/11: Tỷ giá trung tâm giảm tiếp 3 đồng

09:38 | 11/11/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (11/11), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ 3 đồng thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít thay đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong Tỷ giá sáng 10/11: Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng
ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong Tỷ giá sáng 9/11: Tỷ giá trung tâm đi ngang

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.683 đồng, giảm nhẹ 3 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 5 đồng.

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong

Sáng nay, giá bán USD tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện đang niêm yết ở 24.860 đồng/USD, giữ nguyên như phiên trước; giá mua vào USD vẫn tạm để trống.

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong

Trong khi đó, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít thay đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở 24.600 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 24.717 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 24.865 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 24.870 VND/USD.

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 108,362 điểm, tăng 0,429 điểm (+0,4%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tăng trở lại sau khi dữ liệu lạm phát của Mỹ được công bố với kết quả thấp hơn dự kiến làm tăng hy vọng rằng lạm phát có thể đã đạt đến đỉnh, qua đó Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể sẽ bắt đầu xem xét giảm mức tăng lãi suất.

Số liệu vừa được công bố cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ tăng 7,7% so với cùng kỳ trong tháng Mười, mức tăng thấp nhất kể từ tháng Một và thấp hơn mức dự báo tăng 8% trước đó.

Hôm qua, bạc xanh giảm mạnh 3,7% so với yên Nhật - mức giảm theo ngày "tồi tệ" nhất kể từ năm 2016 - sau khi báo cáo lạm phát được công bố. Tuy nhiên, sáng nay bạc xanh đã tăng mạnh 0,98% lên 142,36 JPY/USD.

Tương tự, sáng nay bảng Anh giảm 0,53% xuống 1,1656 USD, sau khi ghi nhận ​​mức tăng hàng ngày tốt nhất kể từ năm 2017 khi tăng hơn 3% trong phiên hôm qua.

Đô la Úc cũng đã tăng gần 3% so với bạc xanh, mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2011 trong phiên hôm qua và sáng nay cũng quay đầu giảm 0,45% xuống 0,6589 USD.

Hôm qua, chỉ số bạc xanh đã sụt giảm hơn 2%, mức giảm cao nhất theo ngày trong hơn một thập kỷ.

"Biến động hôm qua của bạc xanh là khá mạnh... Tôi nghĩ rằng số liệu CPI tháng Mười sẽ hỗ trợ cho việc Fed có thể giảm quy mô tăng lãi suất xuống tại cuộc họp tháng 12", chuyên gia chiến lược tiền tệ tại Commonwealth Bank of Australia, Carol Kong nói và thêm rằng: "Các quan chức chính phủ Nhật Bản chắc chắn sẽ vui mừng về sự sụt giảm của bạc xanh, nó chủ yếu được thúc đẩy bởi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm mạnh".

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm mạnh ở phiên hôm qua, khi các nhà đầu tư điều chỉnh giảm kỳ vọng về mức đỉnh lãi suất của Mỹ, với lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm giảm xuống dưới 4% - mức thấp nhất trong hơn một tháng.

Sáng nay, euro giảm 0,34% xuống 1,0174 USD sau khi tăng gần 2% vào hôm qua. Trong khi đô la New Zealand giảm 0,58% xuống 0,5988 USD sau khi tăng 2,4% ở phiên trước.

Thị trường hiện đang dự đoán xác suất 71,5% lãi suất chính sách của Fed sẽ tăng 50 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng 12 và 28,5% tăng 75 điểm cơ bản.

“Đã có những dấu hiệu khởi sắc trong bản báo cáo CPI tháng Mười của Mỹ, nhưng sự khởi sắc này cần phải lặp lại trong những tháng tới để gia tăng niềm tin rằng lạm phát đang đi đúng hướng mà Fed kỳ vọng”, các chuyên gia kinh tế tại ANZ nói.

Ở thông tin khác, các nhà đầu tư tiếp tục chú ý đến tình trạng hỗn loạn đang diễn ra trên thị trường tiền điện tử, sau khi sàn giao dịch tiền điện tử quy mô thứ hai thế giới là FTX đứng bên bờ vực phá sản vì mất thanh khoản.

Theo một nguồn tin nói với Reuters, FTX đang cố gắng huy động khoảng 9,4 tỷ USD từ các nhà đầu tư và các sàn giao dịch khác.

ty gia sang 1111 ty gia trung tam giam tiep 3 dong

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700