Tỷ giá sáng 14/1: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm

10:19 | 14/01/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (14/1), trong khi tỷ giá trung tâm có phiên giảm thứ hai liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 141 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 13/1
ty gia ngay 141 Tỷ giá sáng 13/1: Tỷ giá trung tâm giảm trở lại
ty gia ngay 141

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.082 đồng, giảm 14 đồng so với phiên trước. Như vậy tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 28 đồng.

ty gia ngay 141

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.650 VND/USD đối với giá mua vào và giữ nguyên 23.150 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 141

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.540 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.630 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 22.810 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 22.850 VND/USD.

ty gia ngay 141

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 94,761 điểm, giảm nhẹ 0,098 điểm (-0,1%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh hướng đến mức giảm hàng tuần lớn nhất trong tám tháng khi các nhà đầu tư cắt giảm các vị thế mua vì cho rằng hiện tại, một số đợt tăng lãi suất của Mỹ trong năm nay đã được xác định.

Chỉ số bạc xanh đã giảm khoảng 0,9% trong tuần - mức giảm hàng tuần lớn nhất kể từ tháng 5/2021.

Tính đến thời điểm hiện tại, euro đã tăng hơn 0,8% trong tuần so với bạc xanh và vượt ra khỏi phạm vi giao dịch kể từ cuối tháng 11/2021 cho đến gần đây. Sáng nay, euro tiếp tục tăng nhẹ 0,08% và giao dịch ở 1,1464 USD.

Trong khi đó, yên Nhật đã tăng 1% trong tuần, hiện đang giao dịch ở 113,78 JPY/USD, tăng 0,37% trong phiên.

Lợi suất trái phiếu dài hạn của Mỹ đã giảm nhẹ sau các phát biểu diều hâu từ quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) về việc giảm bảng cân đối kế toán.

“Các nhà đầu tư dường như đang cho rằng việc chấm dứt nới lỏng định lượng, tăng lãi suất bốn lần và bắt đầu thắt chặt định lượng trong thời gian 9 tháng là hành động quá mạnh mẽ", Derek Halpenny, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu thị trường toàn cầu của MUFG nói và thêm rằng: “Trên thực tế, điều này đã củng cố niềm tin rằng lãi suất liên bang của Fed sẽ ở mức dưới 2%”.

Các đồng tiền đại diện rủi ro cũng đã vượt khỏi phạm vi giao dịch gần đây. Đô la New Zealand đã tăng 1,3% trong tuần và vượt qua mức trung bình động 50 ngày, hiện đang giao dịch ở 0,6859 USD.

Đô la Úc sáng nay giảm 0,18% ở mức 0,7270 USD, sau khi đã phá vỡ ngưỡng kháng cự 0,7276 USD trong tuần này.

“Bằng chứng thêm về sức mạnh của thị trường lao động sẽ kích hoạt kỳ vọng về một sự thay đổi tích cực của Ngân hàng Trung ương Úc, điều này sẽ làm nền tảng cho triển vọng đối với AUD”, chiến lược gia Jane Foley của Rabobank FX nói và nhận định thêm: "Chúng tôi kỳ vọng AUD/USD sẽ tăng cao hơn lên 0,74 USD vào năm 2022".

Bảng Anh cũng đang có xu hướng tăng bất chấp một cuộc khủng hoảng chính trị đe dọa lập trường của Thủ tướng Boris Johnson vì tin tưởng rằng nền kinh tế Anh có thể chống chọi với làn sóng COVID-19 và việc tăng lãi suất có thể bắt đầu vào tháng tới.

Sáng nay, bảng Anh tăng 0,11% ở mức 1,3721 USD - trên mức trung bình động 200 và đang hướng tới mức tăng hàng tuần thứ tư liên tiếp - hơn 0,5%. 

Đô la Canada đã rút lui khỏi mức cao nhất trong hai tháng khi giá dầu giảm, hiện đang giao dịch ở 1,2516 CAD/USD.

Tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 1,25%, như dự kiến, và đồng won của Hàn Quốc tiếp tục có mức tăng hàng tuần ở khoảng 0,8%.

ty gia ngay 141

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.550 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.580 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.596 22.896 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.640 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.605 22.892 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.930 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.620 22.820 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950